Monday, July 20, 2009

Phát hiện tranh của thi sĩ Bùi Giáng

Trong một lần dọn dẹp nhà cửa mới đây, họa sĩ Phạm Cung đã tìm lại được hơn 20 bức tranh của thi sĩ Bùi Giáng. Lâu nay, những người yêu mến Bùi Giáng đều biết rằng “trung niên thi sĩ” có vẽ tranh nhưng là vẽ trước năm 1975. Riêng hơn 20 bức tranh họa sĩ Phạm Cung đang lưu giữ đều được Bùi Giáng vẽ từ năm 1982 đến khoảng 1994 trước lúc ông qua đời (1998).

TU HOA

Chỉ vẽ khi ngà ngà…

Họa sĩ Phạm Cung kể rằng khi sinh thời, thi sĩ Bùi Giáng thường lui tới ăn, ở tại nhà ông. Trong những lúc Bùi Giáng ngồi chơi uống rượu xem Phạm Cung vẽ tranh, ông đã ngẫu hứng mượn cọ, xin màu, giấy và… vẽ. Bùi Giáng chỉ vẽ khi đã có tí men ngà ngà cùng với những câu chuyện văn chương nghệ thuật qua nói chuyện với Phạm Cung bốc lên trong đầu. Thế nhưng, những bức tranh của Bùi Giáng lại vẽ những đề tài rất… Bùi Giáng. Chẳng hạn như cách đặt tên những bức tranh như sau: Bò khát bia, Chó hút thuốc, Người say, Người cưỡi ngựa hộc máu, Chân dung người điên, Chân dung, Lão Từ Hải thất vọng… cùng nhiều bức tranh không đặt tên khác.

Những bức tranh Bùi Giáng vẽ trong giai đoạn này (1982 – 1994) tại nhà họa sĩ Phạm Cung chủ yếu bằng màu nước hoặc bút bi trên giấy khổ A4. Màu nước được họa sĩ Phạm Cung mua riêng cho Bùi Giáng vì họa sĩ sợ thi sĩ “nghịch hao” sơn dầu của mình trong thời buổi khó kiếm. Dù được Phạm Cung mua cho nhiều lọ màu nước khác nhau, nhưng Bùi Giáng chỉ dùng một hoặc tối đa là ba màu cho mỗi bức tranh. Tuy vẽ bằng màu nước, vậy nhưng “trung niên thi sĩ” lại dùng cọ chuyên để vẽ sơn dầu.

TU HAI THAT VONG

Họa sĩ Phạm Cung cho biết: “Anh Bùi Giáng vẽ rất mạnh tay nhiều khi rách toạc tờ giấy. Mà vẽ mạnh ta thì không thể dùng cọ vẽ màu nước do đầu cọ mềm nên không làm chủ được nét dày mỏng của bức tranh”. Còn giấy để Bùi Giáng vẽ đa phần là giấy… “phế liệu” do Phạm Cung lúc ấy quá nghèo không mua được giấy trắng, tốt. Khi đó, vợ họa sĩ Phạm Cung buôn bán trà nên ông đã lấy những tờ giấy gói trà màu vàng, ủi phẳng, xếp ngay ngắn dành cho Bùi Giáng. Nguyên vật liệu chỉ đơn giản có vậy, nhưng Bùi Giáng vẽ rất say mê, đến độ hết màu nước ông chuyển sang vẽ bằng bút bi.

Tại sao những bức tranh của Bùi Giáng còn được một họa sĩ lão làng như Phạm Cung gìn giữ đến hôm nay? Họa sĩ Phạm Cung thành thật: “Thực ra họa sĩ chuyên nghiệp như tôi không xem đường nét hay sắc màu trong tranh Bùi Giáng là cái gì cao siêu đâu. Nhưng tôi quý tranh của anh Bùi Giáng vì tư tưởng, cách đặt tên và đặc biệt là những câu thơ anh viết lên bức tranh”. Mỗi bức tranh Bùi Giáng vẽ xong, họa sĩ Phạm Cung xếp cất vào một góc riêng, biểu hiện sự trân trọng những gì Bùi Giáng làm ra, nhưng chính họa sĩ lại lãng quên ngay sau đó.

Mỗi bức tranh là một câu chuyện

BO KHAT BIA

Trong số hơn 20 bức tranh của Bùi Giáng, có 2 bức khá đặc biệt: Chân dung do Bùi Giáng tự họa và Lão Từ Hải thất vọng. Bức Chân dung được Bùi Giáng tự họa vào năm 1994. Họa sĩ Phạm Cung cho biết ông có vẽ, làm tượng chân dung Bùi Giáng. Khi Bùi Giáng xem chân dung của mình qua nét cọ Phạm Cung liền ngẫu hứng tự họa chân dung mình. Họa sĩ Phạm Cung đánh giá bức chân dung tự họa này của Bùi Giáng rất xuất thần vì rất… Bùi Giáng.

Còn bức tranh Lão Từ Hải thất vọng (vẽ khoảng năm 1982) có hai câu thơ: “Đêm nay nhớ lại Kiều nhi/ Mới hay không phải tử thi của Kiều” kèm cụm từ: “tặng đại ca” cũng rất… Bùi Giáng. Lão Từ Hải thất vọng vẽ chân dung một người đàn ông râu tóc lởm chởm, sau lưng có đầu một con ngựa. Họa sĩ Phạm Cung nhận xét: Bùi Giáng gọi là vẽ Từ Hải nhưng thực chất cũng là vẽ chính mình. Trong năm 1994, Bùi Giáng cũng vẽ một bức Chân dung người điên với hai con mắt như thơ ông: “Còn hai con mắt khóc người một con”.

Trong số hơn 20 bức tranh của Bùi Giáng đang được họa sĩ Phạm Cung lưu giữ, mỗi bức có một câu chuyện đính kèm thể hiện cuộc sống thời điểm đó của thi sĩ. Như bức Chó thuốc, theo lời họa sĩ Phạm Cung: “Khi đó tui mời anh Bùi Giáng một điếu xì gà do người quen của tui cho, anh đưa lên mũi ngửi tới ngửi lui rồi vẽ thành bức Chó hút thuốc rồi giải thích: Chó còn thèm hút thuốc huống gì là tao. Chó hút thuốc hình như vẽ năm 1982”. Tương tự, bức tranh Bò khát bia cũng thế, điều đó thể hiện sự túng thiếu một thời đến độ thi sĩ phải mượn loài vật để nói hộ mình những nhu cầu cơ bản của một con người.

Theo TRẦN HOÀNG NHÂN

(Thể Thao & Văn Hóa)

Đỏan khúc "Giọt lệ và nụ cưới" - Kahlil Gibran

“Tôi hẳn không chịu đổi những đau khổ của lòng tôi lấy những lạc thú của đám đông. Và tôi sẽ không nhờ ai biến những giọt lệ mà những nỗi buồn đã khiến cho tuôn chẩy từ khắp thân thể tôi thành tiếng cười. Tôi ước rằng đời tôi vẫn là một giọt lệ và một nụ cười.

Một giọt lệ để thanh tịnh trái tim tôi và cho tôi hiểu biết những huyền bí và những sự vật ẩn khuất của đời sống. Một nụ cười để đem tôi gần gũi đồng loại và làm một biểu tượng cho lời ca tụng các thần linh của tôi.

Một giọt lệ để kếp hợp tôi với những kẻ khổ đau; một nụ cười để biểu hiệu cho niềm vui sống của tôi.

Tôi thà chịu chết trong mong mỏi khát khao hơn là trong mỏi mòn tuyệt vọng.

Tôi muốn sự thèm khát tình yêu và vẻ đẹp ngự trị trong sâu thẳm hồn tôi, vì tôi vẫn coi những kẻ thỏa mãn là những kẻ đốn mạt nhất. Tôi đã nghe tiếng thở dài của những kẻ mong mỏi khát khao và nó còn dịu dàng hơn là khúc điệu dịu dàng nhất.

Buổi chiều đến bông hoa khép những cánh lại và yên ngủ, ôm ấp nỗi hoài mong. Khi buổi sáng đến, nó hé môi để đón nhận nụ hôn của mặt trời.

Đời sống của một bông hoa là mong mỏi và thành tựu. Một giọt lệ và một nụ cười

Kahlil Gibran - Ðừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn

Nguyễn Ước dịch

Lời người dịch:

Trên vách nhà của nhiều người Mỹ có treo tấm lắc ghi câu cố Tổng thống John F. Kennedy kêu gọi đồng bào Hoa Kỳ của ông và các công dân thế giới, trong diễn văn nhậm chức ngày 20.1.1961:

“Ask not what your country can do for you, but ask what you can do for your country.”

(Ðừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn, mà hãy hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước.)

Lời phát biểu bất hủ ấy lần đầu tiên xuất hiện trong một bài thơ xuôi của Kahlil Gibran, viết bằng tiếng Arập, khoảng thập niên 1920, mà nhan đề của nó, theo Joseph Sheban, có thể dịch sang tiếng Anh là The New Deal (Đối xử mới) hoặc The New Frontier (Biên cương mới).

Kahlil Gibran (1883-1931) là thi sĩ và họa sĩ người Mỹ gốc Liban. Cùng gia đình di dân sang New York năm 1895, tới năm 15 tuổi ông quay về học ở quê hương và trở lại Mỹ năm 1902. Ba mươi năm sau, thi hài của ông được đem về an táng tại thị trấn chôn nhau cắt rốn.

Gibran để lại hàng trăm bức họa và khoảng 30 tác phẩm viết bằng tiếng Arập hoặc tiếng Anh. Với cung giọng ngôn sứ đầy chất thơ, tác phẩm của Kahil Gibran như một dòng chảy tổng hợp các suối nguồn Do thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Các bài trường đoản cú hay các bài thơ xuôi của ông cao nhã, ngôn từ trang trọng, với hình ảnh con người hướng thượng, chiêm nghiệm, và dấn thân, kèm theo những cái nhìn thấu suốt vào các chủ đề của cuộc sống, được diễn tả bằng thuật ngữ tâm linh.

Tuyệt phẩm The Prophet (Ngôn sứ) của Gibran xuất bản lần đầu năm 1923, được dịch ra hơn 20 thứ tiếng và là một trong các sách bán chạy nhất tại Mỹ trong thế kỷ 20. The Prophet gồm 26 tiểu luận bằng thơ xuôi, ứng xử chuyên biệt với các chủ đề trong cuộc sống. Nó đặc biệt nổi bật trong thập niên 1960 với hai trào lưu Thời đại Mới (New Age) và Phản Văn hóa (Counter-culture), đồng thời tinh thần Biên cương mới góp phần tạo cảm hứng cho các phong trào thiện nguyện viên quốc tế, các tổ chức bất vụ lợi (NGO) hoạt động văn hóa, xã hội, y tế… trên khắp thế giới.

Với Kahil Gibran, “Lịch sử chỉ lặp lại chính nó trong tâm trí những kẻ không biết lịch sử” (History does not repeat itself except in the minds of those who do not know history), và “Một nửa những gì tôi viết là vô nghĩa, nhưng tôi nói nửa ấy ra để nửa kia có thể với tới bạn” (Half of what I say is meaningless, but I say it so that the other half may reach you).

Một số câu truyện và bài viết của Gibran bảy tám chục năm trước đã thuộc về lịch sử, nhưng một số khác vẫn mang tính đương đại, vượt thời gian và thích hợp với hoàn cảnh chính trị và văn hóa thời nay, trong đó có thể kể luôn cả Việt Nam. Có lẽ nhờ thế từ sau khi Gibran qua đời, ảnh hưởng của ông ngày càng lan rộng từ lãnh vực hội họa, triết học, văn học cho tới môi sinh, tại các đại học Hoa Kỳ và Trung Ðông, Unesco, các giải thưởng quốc tế mang tên ông…

Tại Nam Việt trước năm 1975, có ít nhất năm tác phẩm của Kahil Gibran được dịch ra tiếng Việt và xuất bản. Cuốn The Prophet có hai bản dịch: Kẻ tiên tri và Mật khải.

Bài thơ xuôi dưới đây dịch từ bản tiếng Anh của Joseph Sheban, trích từ cuốn A Third Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng thứ ba của Kahlil Gibran) do Andrew Dib Sherfan biên tập và giới thiệu, Nxb The Citadel Press, Secaucus, New Jersey, HK, tái bản lần thứ ba năm 1975, tt. 52-57.

______________

Biên cương mới

Kahlil Gibran

Ở Trung Ðông ngày nay có hai ý tưởng cũ và mới đang thách thức nhau.

Những ý tưởng cũ rồi sẽ biến mất vì chúng yếu ớt và kiệt quệ.

Ở Trung Ðông đang có cơn bừng tỉnh xem thường những giấc ngủ say. Cơn bừng tỉnh này sẽ lướt thắng vì mặt trời là thủ lãnh và bình minh là đạo binh của nó.

Trên các cánh đồng Trung Ðông, nơi bao la đất nghĩa trang, đứng lên tuổi trẻ của mùa Xuân, cất lời kêu gọi những ai cư ngụ trong mộ đá hãy trỗi dậy và tiến về những biên cương mới.

Khi mùa Xuân ngân lên nhịp điệu của nó cũng là lúc thần chết vươn vai, trải tấm vải liệm và cất bước chân đi.

Nơi chân trời Trung Ðông cơn bừng tỉnh mới đang dâng cao và trải rộng, chạm tới và bao phủ mọi linh hồn mẫn tuệ và nhạy cảm, thấm sâu và thu phục thiện cảm của những con tim cao nhã.

Trung Ðông ngày nay có hai chủ nhân. Một là người quyết định, ra lệnh và được vâng lời; nhưng kẻ đó đang lâm vào thời điểm tử vong.

Còn chủ nhân kia dù im tiếng tuân giữ luật lệ và trật tự, trầm lặng trông chờ công lý; nhưng là người khổng lồ đầy quyền năng, biết rõ sức mạnh của mình, tự tin vào sự hiện hữu của mình và tin tưởng định mệnh của mình.

Ở Trung Ðông ngày nay, có hai loại người: một của quá khứ và một của tương lai. Bạn là con người nào trong hai loại đó? Hãy tới sát bên tôi để tôi nhìn bạn, và hãy cho tôi được bảo đảm, bằng diện mạo và hạnh kiểm của bạn, rằng bạn là người cất bước tiến về nơi ánh sáng hay là kẻ đang đi vào chốn tối tăm.

Hãy tới kề bên tôi, nói cho tôi biết bạn là ai và bạn làm gì.

Có phải là bạn là kẻ làm chính trị đang hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn, hay bạn là người nhiệt tình đang hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn là ký sinh trùng; nếu là người thứ hai, thế thì bạn đang là ốc đảo trong sa mạc.

Có phải bạn là một thương buôn đang sử dụng những cần thiết của xã hội cho các nhu cầu của cuộc sống mình, cho lợi nhuận độc quyền và phi lý, hay bạn là người siêng năng giản dị, cần cù lao động, sẵn lòng cho sự đổi chác giữa thợ dệt và nông dân, và có phải bạn đang đòi lợi nhuận hợp lý như một người trung gian giữa hai phía cung cầu?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn là phạm nhân dù đang sống trong lâu đài biệt thự hay chốn lao tù. Nếu là người thứ hai, thế thì bạn là người từ tâm cho dẫu bạn được dân chúng cảm tạ hoặc bị họ đấu tố.

Có phải bạn là nhà lãnh đạo tôn giáo đang đan dệt cho hình hài mình chiếc áo chùng tu sĩ xuất từ sự vô minh của dân chúng, đang nặn đúc chiếc mũ miện cho mình xuất từ sự chất phác của tâm hồn dân chúng, và đang giả vờ ghét cái ác chỉ vì muốn sống dựa vào lợi tức của mình?

Hay có phải bạn là người ngoan đạo và tận hiến, đang tìm thấy trong lòng mộ đạo của cá nhân mỗi người nền tảng cho một đất nước tiến bộ, và có thể thấy xuyên qua cuộc tìm kiếm sâu xa trong thăm thẳm linh hồn mình chiếc thang dẫn lên linh hồn vĩnh cửu, cái định hướng cho thế giới?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn là tên dị giáo, không tin vào Thượng đế dù đang ăn chay ban ngày và cầu nguyện ban đêm.

Nếu là người thứ hai, thế thì bạn là cây hoa tím trong vườn chân lý cho dẫu mùi thơm thất lạc trên cánh mũi của loài người, hoặc cho dẫu hương thơm tỏa vào không khí hiếm hoi ở đó mùi hương của các đóa hoa được giữ gìn.

Có phải bạn là người làm báo, đang bán ý tưởng và nguyên tắc của mình trong ngôi chợ nô lệ, và sống trên sự khốn khó của dân chúng, như kên kên chỉ sà cánh xuống các thây ma động vật thối rữa?

Hay có phải bạn là nhà giáo trên bục giảng của đô thị, đang thu thập kinh nghiệm từ cuộc sống và trình bày cho dân chúng theo những bài giảng bạn từng học được?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn là vết thương và mụt nhọt. Nếu là người thứ hai, thế thì bạn là thuốc xoa dịu chỗ đau và là dược phẩm.

Có phải bạn là người cai trị đang tự hạ trước kẻ bổ nhiệm mình, xem thường những ai bị mình cai trị, và chưa hề nhấc bàn tay trừ phi để với tới các chiếc túi, cũng như không bao giờ cất chân bước tới trừ phi để nghênh đón cấp trên?

Hay có phải bạn là người đầy tớ trung thành chỉ phục vụ cho phúc lợi của dân chúng?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn như bao bì khấu trừ trong sân đập lúa của quốc gia; và nếu là người thứ hai, thế thì bạn là phúc lành trên các kho lẫm.

Có phải bạn là người đang cho mình được làm điều mình không cho phép vợ làm, bỏ nàng sống quạnh hiu với chiếc chìa khóa bạn nhét kỹ trong chiếc ủng của mình, và đang tham lam ăn nhậu, nhồi nhét các thức ăn mình ưa chuộng trong khi nàng ngồi đó với chiếc đĩa trống không?

Hay có phải bạn là người bạn đời chỉ hành động khi sóng đôi tay trong tay hoặc không làm điều gì nếu nàng chưa đưa ý nghĩ và ý kiến của riêng nàng, và cùng chia sẻ với nàng hạnh phúc và thành công của bạn?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn là một tàn dư của bộ lạc, đang khoác lớp da của loài sinh vật đã biến mất rất lâu trước ngày rời hang động; và nếu bạn là người thứ hai, thế thì bạn là lãnh đạo của một đất nước đang chuyển động trong rạng đông tới ánh sáng của công lý và minh triết.

Có phải bạn là một nhà văn đang chỉ tìm kiếm trong sự tự ngưỡng mộ, giữ cho mình ở mãi trong thung lũng quá khứ bụi bặm, nơi các thời đại vứt lại tàn dư y trang và các ý tưởng vô dụng?

Hay bạn là người suy tư sáng sủa, đang xem xét điều tốt lành và hữu ích cho xã hội, và trang trải đời mình trong cuộc xây dựng những gì mang lại lợi ích và hủy diệt những gì gây tổn hại?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn nhu nhược và rồ dại; và nếu là người thứ hai, thế thì bạn là cơm cho những ai đang đói và nước cho những ai đang khát.

Có phải bạn là một nhà thơ đang rung lục lạc nơi cửa nhà các tiểu vương gia hay tung hoa trong lễ cưới, và là kẻ bước đi trong đám tang với chiếc khăn thấm đẫm nước ấm trên cửa miệng, rồi được vắt bằng lưỡi cùng môi mình ngay lúc vừa đặt chân tới nghĩa trang?

Hay có phải bạn là tặng phẩm Thượng đế đặt trong đôi bàn tay bạn, nơi dạo lên những khúc nhạc tuyệt trần, nâng tâm hồn chúng tôi tới những tuyệt vời trong cuộc sống?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn là gã làm trò tung hứng, đang gợi lên trong lòng chúng tôi điều ngược lại những gì bạn dự tính.

Nếu là người thứ hai, thế thì bạn là tình yêu trong con tim của chúng tôi và là khải thị trong tâm trí của chúng tôi.

Ở Trung Ðông đang có hai đám rước: một của dân chúng già nua bước đi với những chiếc lưng cong, được nâng đỡ bởi những chiếc gậy cong; họ phì phò thở dù đang trên đường bước xuống đồi.

Hai là đám rước của những người trẻ trung, chạy như bằng đôi chân có cánh và hân hoan như trong thanh quản có sợi tơ đàn; họ vượt qua các chướng ngại như thể đang có nam châm hút họ lên sườn núi và đang có ma thuật mê hoặc trái tim họ.

Bạn thì sao, bạn muốn mình chuyển động trong đám rước nào?

Bạn hãy tự hỏi và lắng mình suy tưởng khi vẫn còn đêm, hãy thấy cho ra mình là nô lệ của hôm qua hay giải thoát cho ngày mai.

Tôi nói với bạn rằng con cái của các năm qua đang bước đi trong đám ma của một kỷ nguyên do chúng tạo ra cho chính chúng. Chúng đang níu kéo sợi thừng mục nhão hẳn sẽ sớm đứt và khiến chúng rơi xuống vực thẳm lãng quên. Tôi nói cho biết rằng chúng đang sống trong những ngôi nhà nền móng suy sụp - nhà của chúng sẽ đổ ập xuống đầu chúng, và như thế sẽ trở thành huyệt mộ của chúng. Tôi nói cho biết rằng hết thảy các ý nghĩ của chúng, các lời nói của chúng, các tranh cãi của chúng, các sáng tác phẩm của chúng, các cuốn sách của chúng và toàn bộ công trình của chúng đều chỉ là những dây xích quá yếu ớt chúng lê theo, không đủ sức kéo khối nặng của chính chúng.

Nhưng con cái của ngày mai là những người được cuộc đời kêu gọi. Họ đi theo nó với đầu ngẩng cao và bằng bước chân chắc nịch. Họ là rạng động của những biên cương mới, không khói sương nào che phủ được họ, không tiếng loảng xoảng của xiềng xích nào nhấn chìm nổi tiếng nói của họ. Họ ít ỏi về số lượng nhưng khác với đống cỏ khô, họ là hạt lúa giống. Chẳng ai biết họ nhưng họ biết nhau. Họ giống những đỉnh núi có thể thấy nhau và nghe nhau, không như những cái hang chẳng bao giờ có thể nghe và thấy. Là hạt giống gieo bởi bàn tay Thượng đế trên cánh đồng, họ sẽ xuyên thủng vỏ và đong đưa chiếc lá tươi non trước vầng thái dương. Rồi sẽ lớn thành cây mạnh mẽ với rễ cắm sâu trong lòng đất và cành vươn lên giữa trời cao.

Monday, December 15, 2008

20 năm sau đọc lại "Phía đông vườn địa đàng"

Trong những bậc thầy văn chương Mỹ hiện đại từng được nhận Giải thưởng Nobel, kể từ Sinclair Lewis cho tới Ernest Hemingway, J. Steinbeck có hẳn một vị trí và thành tựu riêng, độc lập. Ở ông có chất hài hước mà trong chừng mực nào đó bù đắp cho cái chủ đề thường là độc địa và thô bạo của ông. Thiện cảm của ông bao giờ cũng dành cho kẻ bị áp bức, kẻ không có khả năng thích nghi, kẻ đang suy sụp tuyệt vọng; ông muốn đem cái niềm vui giản dị đời thường đối lập lại với sự thèm khát tiền bạc đến độ độc ác và trâng tráo. Nhưng trong ông ta còn bắt gặp khí chất Mỹ trong tình cảm lớn lao đối với thiên nhiên, đối với đất trồng, hoang địa, núi non và các bờ đại dương, tất cả đều trở thành suối nguồn cảm hứng không bao giờ cạn cho J. Steinbeck giữa thế giới những người đang sống và vượt xa ngoài cái thế giới đó. Sở dĩ Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển trao Giải thưởng này cho John Steinbeck ấy là “vì những tác phẩm văn chương vừa hiện thực vừa đầy hoang tưởng, nổi bật với một sự hài hước đầy cảm thông và một cách nhìn xã hội thấu đáo." ….. ( Tuyên dương của Viện hàn lâm Thụy Điển)

Vào năm 1952, cuốn tiểu thuyết “Phía Đông của Vườn Địa đàng” (East of Eden) được xuất bản. Đây là câu truyện khó nhất và quan trọng nhất của John Steinbeck, ở cách tái tạo và lý giải câu chuyện theo Thánh Kinh kể về Cain và Abel, lồng vào trong lịch sử của thung lũng Salinas qua ba thế hệ của một gia đình sinh sống ở đây, từ thập niên 1860 tới Thế Chiến Thứ Nhất. Và chúng ta có thể bắt đầu.

Sách Sáng thế ký, đoạn 4 câu 1-16:

Ca-in và A-ben

Con người ăn ở với E-và, vợ mình. Bà thụ thai và sinh ra Ca-in. Bà nói: “Nhờ Đức Chúa, tôi đã được một người.” Bà lại sinh ra A-ben, em ông. A-ben làm nghề chăn chiên, còn Ca-in làm nghề cày cấy đất đai. Sau một thời gian, Ca-in lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật mà dâng lên Đức Chúa. A-ben cũng dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng. Đức Chúa đoái nhìn đến A-ben và lễ vật của ông, nhưng Ca-in và lễ vật của ông thì Ngài không đoái nhìn. Ca-in giận lắm, sa sầm nét mặt. Đức Chúa phán với Ca-in: “Tại sao ngươi giận dữ? Tại sao ngươi sa sầm nét mặt? Nếu ngươi hành động tốt, có phải là ngươi sẽ ngẩng mặt lên không? Nếu ngươi hành động không tốt, thì tội lỗi đang nằm phục ở cửa, nó thèm muốn ngươi; nhưng ngươi phải chế ngự nó”. Ca-in nói với em là A-ben: “Chúng mình ra ngoài đồng đi!” Và khi hai người đang ở ngoài đồng thì Ca-in xông đến giết A-ben, em mình.

Đức Chúa phán với Ca-in: “A-ben em ngươi đâu rồi?” Ca-in thưa: “Con không biết. Con là người giữ em con hay sao?” Đức Chúa phán: “Ngươi đã làm gì? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên ta!” Giờ đây ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra. Ngươi có canh tác đất đai, nó cũng không còn cho ngươi hoa màu của nó nữa. Ngươi sẽ lang thang phiêu bạt trên mặt đất.” Ca-in thưa với Đức Chúa: “Hình phạt dành cho con quá nặng không thể mang nổi. Đây, hôm nay Ngài xua đuổi con khỏi mặt đất. Con sẽ phải trốn tránh để khỏi giáp mặt Ngài, sẽ phải lang thang phiêu bạt trên mặt đất, và bất cứ ai gặp con sẽ giết con.” Đức Chúa phán với ông: “Không đâu! Bất cứ ai giết Ca-in sẽ bị trả thù gấp bẩy.” Đức Chúa ghi dấu trên Ca-in, để bất cứ ai gặp ông khỏi giết ông. Ông Ca-in đi xa khuất mặt Đức Chúa và ở tại xứ Nốt, về phía đông Ê-đen. (Bản dịch 1998 – Tòa TGM Sài Gòn).

Những năm 1971-1972, hồi còn nhỏ, tôi có đọc kinh thánh bằng truyện tranh có tựa đề “Sấm truyền cũ” và được biết câu chuyện bi thương này, Tôi còn nhớ hình ảnh lò thiêu thấp cở ngang tầm thắt lưng là ba cục đá lớn được xếp thành lò trên mặt của một phiến đá lớn, trên miệng lò có con chiên nằm trên trong ngọn lửa đang rực cháy và khói bốc thẳng lên không trung, ở hình bên cạnh cũng là một cái lò thiêu ở trên miệng lò những hoa trái được xếp vội vàng, xộc xệch, không có hình những lưỡi lửa, chí có những làn khói nhẹ bay ra, là là về phia chân trời…. và được giải thích là Ca-in đã dâng lên Đức Chúa những lễ vật không được chuẩn bị và là những vật phẩm không phải là cái tốt mà Ca-in đang có… Và trong suy nghĩ của tôi thì Ca-in thật là xấu xa và đáng bị trừng phạt.

Khi tôi đọc cuốn “Phía đông vườn địa đàng” của John Steinbeck khoảng năm 1987, do một người bạn tên Khang cho mượn. Tôi thấy câu truyện cuốn hút một phần vì có liên quan đến vườn địa đàng, đến đoạn trích trong sách Sáng thế ký, một cuốn sách mở đầu trong Kinh Thánh của Thiên Chúa Giáo, một phần vì tính nhân văn, tính lôgic trong suy nghĩ, cách dẫn truyện rất phù hợp với tâm lý của từng nhân vật. Nhưng nổi trội là cách đặt vấn đề (con người có sẵn tính ghen ghét trong mình, dễ phạm tội ác khi lòng tự ái bị tổn thương) và cách lý giải của tác giả qua hoàn cảnh của các nhân vật trong truyện. Một cuốn truyện để lại trong tôi nhiều kỷ niệm.

Năm 2004, trong một lần ghé nhà sách Tân Bình mua sách giáo khoa cho mấy nhỏ nhân đầu năm học mới. Tôi đã mua cuốn truyện này do ông Đinh Văn Quý dịch và được nhà xuất bản Văn hóa thông tin phát hành. Một lý do nào đó tôi đã cất cuốn truyện đi mà không đọc lại.

Tháng trước, nhân lúc tìm một cuốn sách về quản trị tài chính tôi tình cờ cầm lại cuốn truyện và tôi đã quyết định đọc lại tác phẩm này một lần nữa.

Câu chuyện xảy ra ở thung lũng Salinas ở về phía bắc tiểu bang California . Qua những thế hệ được nhắc tới và đang làm ăn sinh sống ở đây cùng với sự đổi thay của nước Mỹ, John Steinbeck (tác giả) muốn lý giải tại sao Đức Chúa không nhận của lễ của Ca-in, Ca-in có độc ác như hành động của anh ta? và Ca-in hay đúng hơn là chúng ta “có thể chế ngự được tội lỗi?”.

Khởi đầu là ông Cyrus Trask, một cựu chiến binh của cuộc nội chiến Mỹ. Một người đã quen với kỷ luật, với những mệnh lệnh phải thi hành và có một chút khe khắt, độc đoán trong cách suy nghĩ cũng như cách hành xử. Ông có hai người con trai, Adam Trask là anh, người con thứ với bà vợ kế là Charles Trask. Adam mồ côi mẹ, sống khép kín, yếu đuối hơi nhu nhược. Charles mạnh mẽ, sẵn sàng khắc phục mọi trở ngại để lướt thắng, bạo dạn đến độ liều lĩnh.

“Chẳng bao lâu sau. Ngày kỷ niệm sinh nhật của ông Cyrus, một cuộc khủng hoảng đã xảy đến trong gia đình. Hai cậu con đều tặng quà sinh nhật cho cha. Adam tặng cha một con cún lai, mà anh bắt được trong rừng để cha nuôi làm chó săn. Còn Charles thì tặng cha một con dao ba lưỡi có lò xo và cán nạm ngọc trai để ông có thể làm việc trong nhiều giờ liên tiếp. Ông Cyrus bồng con chó lên tay vuốt ve rồi đem nó vào phòng riêng. Ông nói mấy tiếng cám ơn về con dao Charles tặng, nhưng không bao giờ dùng tới. Charles chua chát càu nhàu: “Ông chẳng bao giờ thèm mó tới!”. Bị chạm tự ái, lòng ganh tị ở Charles mỗi ngày một tăng đến độ làm anh cuồng trí. Một đêm kia gặp Adam một mình trên đường làng, Charles đã đánh anh mình một trận nhừ tử không chút xót thương. Sau đó, Charles còn chạy về nhà tìm một cái rìu. Nếu Adam không nhanh chân chui xuống ẩn dưới cái mương bên vệ đường, thì Charles đã giết chết anh rồi. Charles trốn biệt hai tuần lễ sau vụ đó. Khi anh ta lò dò trở về thì cơn giận của ông bố đã nguội bớt chỉ còn lại sự tức giận ngấm ngầm. Charles tự chuộc lỗi bằng cách căm cụi làm việc suốt ngày và thầm ân hận.”

Một thời gian sau, Adam nhập ngũ, phục vụ trong quân đội hơn mười năm, Adam trở về nông trại sống với Charles (lúc này ông Cyrus đã qua đời). Cuộc đời của Adam vẫn âm thầm tẻ nhạt như bị một lớp mạng nhện bụi băm che phủ. Bỗng Cathy Ames xuất hiện như một luồng hào quang chiếu rọi vào cuộc đời của anh, làm thay đổi tất cả.

“Tôi tin rằng trên đời này có ma quỷ len lỏi để phá hoại loài người: đó là loại ma quỷ hiện hình người, và loại ma quỷ siêu hình. Cũng như có đứa trẻ được sinh ra thiếu một tai thì cũng có người sinh ra thiếu lương tâm. Theo tôi nghĩ thì Cathy Ames thuộc hạng người đó….. Dù bản chất của nàng độc ác và con người của nàng chỉ là một cạm bẫy, nhưng thọat nhìn ai cũng tưởng nàng hiền lành ngây thơ….. Trong ánh mắt nàng, có một vẻ gì kỳ bí mà người ta không thấy lại được khi nhìn lần thứ hai…. Cathy hay nói dối, nhưng nàng không có cái lối nói dối vô tư như phần lớn các trẻ em. Những vụ nói dối của nàng đều có sắp đặt và vụ lợi. Bao giờ nàng cũng nói lửng lơ gần sát với sự thật để không ai nghi ngờ gì rồi dựa theo đó nàng chen vào một chuyện không có thật hoặc nàng kể một chuyện thật bằng lối nói quanh co ỡm ờ như chuyện bịa. Nhờ nghệ thuật đó, nếu ai có nghi ngờ một chuyện nào là dối trá, nhưng rồi chuyện đó lại xảy ra thật thì những chuyện bịa đặt khác của nàng cũng đâm ra có thể là những chuyện thật hết.”

Bỏ ngoài tai những lời can ngăn của Charles (vì không nắm được lý lịch của Cathy), Adam cương quyết cưới Cathy. Anh bán rẻ nửa nông trại phần mình cho Charles. Số tiền đó cộng với nửa phần tiền của cha để lại, vợ chồng Adam trở nên giàu có và tự do… và họ đã định cư tại thung lũng Salinas . Cuộc đời của Adam từ trước tới nay chỉ là những chuỗi ngày buồn nản, nhưng bây giờ chàng mới bắt đầu cảm thấy tươi sáng. Ngồi nhìn nông trại mình mới tậu, căn nhà đầy đủ tiện nghi đang hoàn thành. Adam nuôi rất nhiều hy vọng ở tương lai, nhưng chàng cũng khá thỏa mãn với hiện tại. Chàng thấy lòng tràn ngập niềm vui khi nhìn Cathy ngồi yên lặng dưới ánh mặt trời với đứa con đang lớn dần trong bụng. Nhưng đối với nàng cái thai là một rủi ro ngoài ý muốn. Nó là cái bẫy kẹp cứng chân nàng lại. Nàng không có ý định sống gắn bó với Adam và cuộc sống hiện tại, nàng đủ mạnh mẽ để sống một cuộc sống độc lập theo cách riêng của nàng. Cuối cùng việc gì đến thì nó đến. Cathy đã bỏ nhà ra đi sau khi sinh được khoảng nửa tháng.

“Trong bàn tay phải của nàng là khẩu Colt 44, mũi súng đen ngòm chĩa thẳng vào chàng. Chàng bước tới một bước. Cò súng kéo lùi về phía sau. Nàng nổ súng vào chàng. Viên đạn sướt vào vai, xé rách một mảng thịt. Tia lửa và tiếng nổ làm chàng hoảng vía bật ngửa té xuống sàn nhà…Chàng nghe bước chân nàng ngoài thềm dẫm lên đống lá sồi khô cong queo trên lối đi và cuối cùng mất hút. Trong lúc đó, chàng nghe rõ tiếng khóc đều đều của hai đứa bé song sinh vì khát sữa. Chàng đã quên cho nó bú.”

Adam đã buông xuôi tất cả, đau buồn vẫn xâm chiếm cả tâm hồn chàng. Trong nhà chỉ còn chú Lee, chú đầu bếp người Tàu, cũng cố an ủi thúc đẩy Adam hiểu ra thực tại, nhưng chú quá bận. Chú nấu nướng giặt giũ, tắm rửa cho hai đứa bé và lo cho chúng ăn ngủ. Chú yêu thích hai đứa bé và như để đền ơn chú những lời nói bập bẹ đầu tiên của chúng là tiếng Trung Hoa.

Mười một năm sau kể từ lúc Cathy bỏ ra đi. Với một lòng tốt phát ra từ một tâm hồn đầy nhân ái, ông Samuel Hamilton (gia đình Hamilton định cư ở Salinas đã lâu) hàng xóm của Adam Trask, nhân dịp ông đến chào chia tay với Adam để đến sống với một người con gái tên là Olive và đây là cuộc đối thoại:

Samuel hỏi nhanh.

- Anh Adam, anh có yêu thích đời sống của mình không?

- Dĩ nhiên là không.

- Vậy nếu tôi có một liều thuốc vừa có thể chữa lành căn bệnh bi quan, nhưng đồng thời cũng có thể giết chết anh thì anh có sẵn sàng nhận không!

Lee vội can:

- Ông Hamilton, xin ông cẩn thận một chút.

Samuel ôn tồn nói:

- Chú cứ yên tâm, tôi nghĩ rằng lần này tôi không cần cẩn thận nữa. Nếu tôi sai lầm tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm. Adam, anh cần liều thuốc đó không?

- Vâng, tôi không biết liều thuốc đó loại gì, nhưng tôi sẵn sàng xin nhận.

- Anh Adam, Cathy hiện đang ở tại Salinas. Nàng đã đổi tên là Kate và là chủ một ngôi nhà chuyên làm chuyện xấu xa tồi bại nhất trong xứ. Đó là liều thuốc mà tôi định trao cho anh. Để xem nó sẽ có phản ứng nào đối với anh.

- Ông nói láo. Adam lớn tiếng.

- Không đâu, tôi có nhiều tính xấu nhưng nói láo nhất định là không.

Adam gầm lên hỏi Lee:

- Có đúng vậy không?

- Tôi không có liều thuốc giải độc nào hơn. Lee nói. Quả đúng như vậy.

Adam hơi loạng choạng trước ánh đèn bão rồi vụt bỏ chạy. Họ nghe tiếng những bước chân nặng nề của chàng đang chạy và thỉnh thoảng vấp một cái. Họ nghe rõ tiếng chàng bị vấp ngã vào bụi cây, tiếng chân khập khiễng lê bước lên dốc đồi. Tiếng chân dừng lại khi chàng đã lên tận đỉnh đồi.

….

Khi nghe tiếng gõ cửa, nàng khó khăn lắm mới thốt được mấy tiếng.

- Mời vào.

Adam liếc quanh thấy Kate đang ngồi lặng lẽ sau bàn giấy. Chàng ngắm nàng rồi từ từ tiến về phía nàng.

Adam nhận ra vết thẹo, cặp môi và chiếc cổ có ngấn của nàng. Chàng khẽ thở dài.

Bàn tay của Kate hơi run. Nàng hỏi:

- Anh muốn gì ?

Adam ngồi xuống một chiếc ghế dựa cạnh bàn giấy. Chàng muốn khóc vì xúc động nhưng có trấn tĩnh nói:

- Bây giờ tôi cũng chẳng còn muốn gì nữa. Tôi chỉ muốn đến thăm em một lát thôi. Ông Samuel Hamilton cho tôi biết em ở đây.

Kate dựa người vào thành ghế, mỉm cuời nói:

- Anh làm tôi phát sợ. Tôi không biết anh định đến đây để làm gì.

- Tôi cũng chẳng biết đến để làm gì. Adam thẫn thờ nói và tiếp tục nhìn nàng chòng chọc như nàng không phải là người sống thật.

- Từ lâu nay, tôi vẫn mong gặp anh nhưng không thấy anh đến, tôi tưởng đã quên được anh.

- Tôi vẫn chưa quên em, nhưng bây giờ thì tôi có thể quên được rồi. Chàng nói.

- Anh nói như vậy nghĩa là thế nào?

Chàng cười lớn:

- Tôi chỉ muốn nói rằng, bây giờ gặp lại em, đã thấy lại khuôn mặt mà từ lâu nay chỉ là một hình ảnh trong ký ức. Vậy bây giờ tôi có thể quên em được rồi.

Nàng nheo mắt hỏi:

- Anh tin rằng anh có thể quên sao?

- Tôi tin rằng tôi có thể quên được.

Chàng tự nhiên cảm thấy nhẹ nhõm và tự tin ở mình, điều mà từ nhiều năm qua chàng không có được.

Đám tang ông Samuel và cuộc tái ngộ với Kate đáng lẽ làm cho Adam buồn bã và cay đắng hơn, nhưng trái lại, chàng cảm thấy vui vẻ trẻ trung và yêu đời hẳn lên.

Aron, Caleb (thường gọi là Cal ) là tên của hai cậu bé song sinh con của Adam. Càng lớn chúng lại càng khác nhau, từ hình thể đến tâm tính. Cal trông rất giống Adam. Tóc nó màu nâu sậm. Nó cao to hơn anh, cằm vuông đầy vẻ cương quyết. Mắt nó cũng màu nâu và trầm ngâm, đôi lúc sáng ngời lên như màu đen và những lúc như thế trong Cal thật dữ dội. Aron mắt xanh, da trắng với mái tóc vàng ánh và vẻ cởi mở ngoan ngoãn của mình, Aron được nhiều cảm tình của người đối diện. Hai anh em vô tư lớn lên trong tình yêu thương của người đầu bếp trung thành và tốt bụng. Nhưng nỗi hoài nghi về người mẹ đã chết cũng lớn lên trong suy nghĩ của chúng. Năm Cal mười sáu tuổi, tình cờ Cal biết được sự thật về mẹ mình, Khi biết đuợc sự thật thì càng thương bố bao nhiêu thì Cal càng ghét mẹ mình bấy nhiêu. Aron cũng đang trải qua thời kỳ trưởng thành, nhưng chàng có khuynh hướng nghiêng về tôn giáo hơn, chàng muốn trở thành một linh mục. Chàng tin vào những điều tốt đẹp mà thế giới phải có, chàng quá thánh thiện, chàng tự hào về mình,về gia đình đến mức Cal không dám hé răng nói bất kỳ một lời nào về bà mẹ.

Thời gian từ từ trôi đi, nhưng để lại dấu ấn của sự trưởng thành cũng như bao nhiêu hệ lụy đối với gia đình Adam Trask. Vào buổi tối của lễ Tạ ơn, buổi tối của sự họp mặt các thành viên trong gia đình.

Mọi người nâng ly chúc cho sức khỏe nhau. Khi đã ăn hết phần bánh pudding, ông Adam nói:

- Tôi thấy chúng ta chưa bao giờ ăn một lễ Tạ ơn nào tuyệt như vậy.

Cal thò tay vào túi áo blouson lấy ra gói quà cột ruy băng đỏ đẩy tới trước mặt cha.

- Cái gì vậy? Ông Adam hỏi.

- Dạ, đó là một món quà cho ba.

Ông Adam tỏ vẻ không hài lòng nói:

- Chưa đến lễ Giáng sinh mà đã có quà rồi. Không biết cái gì trong này đây.

- Chắc là một chiếc khăn tay. Abra đoán.

Ông Adam tháo rút cái nơ và mở lớp giấy mỏng. Ông trố mắt nhìn xuống xấp giấy bạc.

Abra đứng dậy nhìn cho rõ hỏi:

- Cái gì vậy?

Chú Lee đứng ở ngưỡng cửa nhà bếp, chú để ý quan sát nét mặt của ông Adam với vẻ lo lắng. Chú liếc nhanh về phía Cal và thấy trong ánh mắt cậu ta ngời lên niềm hân hoan đắc thắng.

Ông Adam từ từ đẩy mớ giấy bạc vàng ánh ra. Giọng ông thật xa xăm:

- Cái gì vậy? Cái gì…

Cal nuốt nước bọt giải thích:

- Đó … là số tiền con đã làm ra được…để tặng ba… để bù vào số tiền đã bị mất vì vụ rau diếp.

Ông Adam từ từ ngẩng mặt lên hỏi:

- Con đã làm ra số tiền đó hả? Bằng cách nào vậy?

- Con hùn với chú Will Hamilton…buôn đậu. Nó vói nhanh. Con và chú ấy đặt mua trước với giá năm xu một cân và chờ đến lúc giá đậu tăng vọt mới đem bán. Mười lăm ngàn đồng này là tiền lời kiếm được. Con tặng cho ba.

Ông Adam sắp những tờ giấy bạc mới lại cho ngay ngắn rồi gói lại cẩn thận. Ông thất vọng nhìn chú Lee…Cal có cảm giácnhư một tai biến vừa mới xảy ra, một sụp đổ vừa ập tới khi nghe cha mình nói:

- Mày phải đem số tiền phi nghĩa này trả lại cho những người dân mà mày đã lấy của họ.

- Trả lại cho hãng buôn Anh quốc British Purchasing Agency à? Họ không thể nhận lại số tiền đó. Họ đang lùng mua khắp nước với giá mười một xu một cân đậu mà ba.

- Vậy thì mày hãy đem trả thêm cho những người nông dân mà mày đã cướp công của họ.

- Sao ba lại bảo là cướp công được? Cal gào lên. Tụi con mua cho họ cao giá hơn thị trườngđến một xu rưỡi một cân. Tụi con không cướp giật của ai hết.

Cal cảm giác như mình bị treo lơ lửng giữa khoảng không và thời gian như chậm hẳn lại.

….

- Con sẽ đem cất số tiền này. Con sẽ giữ cho ba. Cal nói nhanh.

- Không, ba sẽ không bao giờ đụng tới món tiền này. Ba sẽ lấy làm sung sướng nếu con cũng tặng cho ba món quà như anh con đã làm. Ba hãnh điện vì những gì nó đang làm.

Cặp mắt ông mở lớn hơn một chút nữa và ông nói tiếp:

- Ba đã làm con bất bình phải không? Đừng giận ba. Nếu con muốn tặng cho ba một món quà, thì con chỉ cần cho ba một đời sống lương thiện của con. Đối với ba, đó là món quà nhất rồi.

Cal cảm thấy nghẹn trong cổ họng. Trán cậu mồ hôi toát ra chảy xuống ròng ròng thấm vào môi mặn đắng.

….

Đêm tháng mười một đã buông hẳn xuống. Cal lách ra khỏi nhà bếp, ngang qua khoảng sân nhà bếp, bước ra ngoài.

Đầu óc Cal gân như tê liệt. Câu thấy bóng Aron dưới ánh đèn đướng cách đó khoảng ba dãy phố, đang đi về phí mình. Chì cần nhìn lối bước chân khá dài và dáng dấp Cal cũng đủ biết ngay là anh nó.

Cal bước chậm lại và khi Aron đến sát bên mình, cậu liền lên tiếng:

- Hì, tôi đang tìm anh đây.

- Anh rất buồn vì những việc xảy ra hồi chiều. Aron nói.

- Anh có can thiệp được gì đâu. Thôi quên vụ đó đi.

Rồi cậu quay ngược lại cùng sóng bước lên cạnh Aron và nói:

- Tôi muốn chỉ cho anh thấy cái này lạ lắm.

- Cái gì vậy?

- Ồ, cái này lạ và hay lắm. Anh sẽ ngạc nhiên vô cùng.

- Được rồi nhưng có lâu lắm không?

- Không. Không lâu đâu. Mau lắm.

Hai anh em đi ngang đại lộ Central Avenue rẽ qua đường Castroville Street.

…..

Trong ngôi nhà ở đường Castroville Street, bà Kate ngồi lặng nhìn sững vào khoảng không trước mặt hết giờ này qua giờ khác. Nét mặt bà hoàn toàn vô cảm xúc. Bà không suy nghĩ gì cả. Tâm trí bà trôi lơ lửng giữa các cảm xúc như con dơi bay lơ lững trong đêm. Bà nhớ lại khuôn mặt của cậu con trai tóc hung hung vàng thật đẹp trai và cặp mắt long lanh lên điên dại vì thất vọng sững sờ. Bà còn nghe rõ bên tai những lời lẽ thậm tệ của nó nhằm vào bà thì ít mà nhằm vào chính nó thì nhiều. Bà thấy người em song sinh có nước da hơi sậm đứng tựa cửa cười hinh hích.

….

Nét mặt chú Lee lộ vẻ xót xa đau đớn. Chú tới sát đầu giường nguời bệnh và kéo góc khăn trải giường lên lau sơ khuôn mặt đẫm mồ hôi của ông Adam. Chú nhìn xuống cặp mắt nhắm nghiền của người bệnh, thì thầm:

- Cảm ơn Adam, ông bạn vong niên của tôi. Ông có thể nhếch môi cố gắng tạo thành tiếng Cal thôi cũng đủ rồi.

Ông Adam nhìn lên một cách khó nhọc. Đôi môi ông cố mấp máy nhưng thất bại, ông cô gắng một lần nữa. Ngực ông căng lên. Ông hít hơi vào, môi ông mấp máy thành tiếng thở dài. Tiếng thều thào của ông như lơ lững trong không khí:

- “Timshel”.

Mắt ông nhắm nghiền lại và ông nằm im.

Câu chuyện đã dừng lại tại đây với một từ ngữ cổ Do Thái theo nguyên tác của sách Sáng thế ký, mà tác giả đã giải thích xuyên qua những bản dịch ra tiếng Mỹ bởi các dịch giả khác nhau, ở những lần xuất bản khác nhau. “Ngươi phải chế ngự nó”, “Ngươi phải kiềm chế nó” hay “Ngươi có thể chế ngự nó”, điều này tôi cần phải ghi nhớ mà suy ngẫm.

Gấp cuốn truyện lại, tôi không còn ghét Cain mà còn cảm thấy tội nghiệp vì anh ta không bao giờ có cơ hội làm lại. Cái may mắn của Adam khi thoát khỏi cuộc săn đuổi của Charles cũng là cái may mắn của Charles. Vì Charles có cơ hội chứng tỏ tình yêu của anh đối với anh mình còn lớn hơn lòng ganh ghét. Đối tuợng mà Caleb thương yêu nhất, quan tâm nhất không là ai khác ngoài ông bố. Caleb lúc đó chỉ cần sự tha thứ của ông bố. Trong tột cùng của sự đau buồn ông Adam đã tha thứ cho Caleb với một điều kiện “Timshel”, tôi tin Caleb sẽ vượt qua vì Caleb không cô đơn trong trận chiến nội tâm đó. Sự tàn ác, lòng hận thù, ghen ghét của con người thật là khủng khiếp, dữ dội và nghiệt ngã. Và chỉ có tình yêu mới giúp cho con người “Ngươi có thể chế ngự nó”. Cám ơn tác giả.

Nguyễn Khắc Hân

Khúc hát đêm - Kahlil Gibran

(Người dịch: Năng Chi Trần Văn Phương)

Đêm trở nên tịch mịch
Mộng ẩn mình trong lặng yên
Trăng đang lên
Dõi mắt chờ đón ngày

Hỡi người con gái đồng nội, xin em hãy đến
Nào ta cùng
Vào vườn nho
Nơi tình nhân gặp gỡ
Biết đâu ở đó
Với rượu tình nồng thắm
Ta có thể làm nguôi cơn khát tột độ của đam mê

Nào, hãy lắng nghe chim hoa mi
Đang cất vang tiếng hót
Vào thung lũng
Có đồi làm toả ngát hương xanh bạc hà

Đừng sợ nghe em, hỡi người yêu dấu
Sao trời sẽ giữ kín bí mật lần ta gặp gỡ
Và sương đêm mịn màng
Sẽ chẳng để ai thấy đôi mình trong vòng tay nhau

Đừng sợ nghe em
Cô dâu trẻ miền hoan lạc
Đang ngủ trong hang động thần tiên
Say men tình ái
Như lẩn tránh được
Cái nhìn của tiên nga

Giá như vua miền hoan lạc có dạo bước qua đây
Thì tình yêu sẽ khiến Người quay lại
Vì Người chẳng phải là tình nhân như ta sao
Và liệu Người sẽ không tiết lộ những gì
Làm tim mình đau khổ?

Nguồn: Cõi thơ (Kahlil Gibran, Song ngữ Anh-Việt)/ NXB Đà Nẵng, 1998.

Monday, November 24, 2008

Thơ cũ của nàng

Người đi qua đời tôi
Trong những chiều đông sầu
Mưa mù lên mấy vai
Gió mù lên mấy trời

Người đi qua đời tôi
Hồn lưng miền rét mướt
Đường bay đầy lá mùa
Vàng xưa đầy dấu chân
Lòng vắng như ngày tháng
Đen tối vùng lãng quên

Người đi qua đời tôi
Chiều ầm vang tiếng sóng
Bàn tay mềm khói sương
Tiếng hát nào hơ nóng

Người đi qua đời tôi
Nghe những lời linh hồn
Phi lao dài tiếng ru
Êm ái lòng hối tiếc
Trên lối về nghĩa trang
Trong mộ phần tồi đen

Người đi qua đời tôi
Không nhớ gì sao người

Em đi qua đời anh
Không nhớ gì sao em...

Trần Dạ Từ

Truyện cực ngắn, nhưng phải suy nghĩ nhiều

Trang viết & cuộc đời


Trong những tác phẩm của chị, gia đình có sự mất mát chia lìa thì nhân vật "người chồng" luôn… bị chết trước vợ.

Anh giận, cho rằng chị ám chỉ mình. Chị bảo: "Nếu trang viết là cuộc đời thì em chỉ muốn anh không phải chịu nỗi buồn của người còn lại."

Vậy mà chị ra đi trước anh. Trơ trọi một mình, anh mới thấm thía nỗi chống chếnh, quạnh hiu của một tâm hồn lẻ bạn

(ST)

Vợ chồng

Mỗi lần du lịch, anh vẫn bật cười vì tính nhát gan của chị. Xe qua đèo: sợ. Lên núi cao: sợ. Biển sóng lớn: sợ. Những lúc ấy, anh lại ôm lấy chị, vỗ về:
- Đừng sợ, có anh đây. Em hãy can đảm lên nào !
Công ty phá sản. Từ cương vị gián đốc, anh quay về với hai bàn tay trắng. Anh hốc hác, suy sụp. Chị dịu dàng ôm anh vào lòng, xoa xoa mái tóc:
- Đừng tuyệt vọng, anh còn có em mà. Hãy can đảm nhé anh !

(ST)

Mồ côi

Đêm đông, nằm cạnh bố, cu Hải co ro thì thầm:
- Giá như mẹ đừng “đi xa”, thì giờ này con được nằm giữa ấm biết mấy. Chứ có hai bố con mình, ai cũng lạnh.
Bố cu Hải vỗ về con, rồi nói:
- Con đừng lo, mẹ xa rồi, có dì thay mẹ chăm con.
Cu Hải không hiểu nhưng cũng thấy mừng, vì nhà lại có thêm người đỡ vắng lạnh.
Mùa đông sau, Hải co ro nằm một mình lại nghĩ:
- Giá như đừng có dì nhỉ thì bây giờ mình đỡ lạnh một bên…

(ST)

Quà sinh nhật

Trong năm đứa con của má, chị nghèo nhất. Chồng mất sớm, con đang tuổi ăn học. Gần tới lễ mừng thọ 70 tuổi của má, cả nhà họp bàn xem nên chọn nhà hàng nào, bao nhiêu bàn, mời bao nhiêu người. Chị lặng lẽ đến bên má: “Má ơi, má thèm gì, để con nấu má ăn?”
Chưa tan tiệc, Má xin phép về sớm vì mệt. Ai cũng chặc lưỡi: “Sao má chẳng ăn gì?” Về nhà, mọi người tìm má. Dưới bếp, má đang ăn cơm với tô canh chua lá me và dĩa cá bống kho tiêu chị mang đến…

(ST)

Con Nuôi

Thầy giáo lớp 1 thảo luận với lớp về một bức hình chụp, có một cậu bé màu tóc khác mọi người trong gia đình. Một học sinh cho rằng cậu bé trong hình chính là con nuôi. Một cô bé nói:
- Mình biết tất cả về con nuôi đấy.
Một học sinh khác hỏi:
- Thế con nuôi là gì?
Cô bé trả lời:
- Con nuôi nghĩa là mình lớn lên từ trong tim mẹ mình chứ không phải từ trong bụng.

(ST)

Khóc

Vừa sinh ra đã vào trại mồ côi, trừ tiếng khóc chào đời, chồng tôi không hề khóc thêm lần nào nữa.
Năm 20 tuổi, qua nhiều khó khăn anh tìm được mẹ, nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại, một lần nữa bà đành chối bỏ con. Anh ngạo nghễ ra đi, không rơi một giọt lệ.
Hôm nay 40 tuổi, đọc tin mẹ đăng báo tìm con, anh chợt khóc. Hỏi tại sao khóc, anh nói:
- Tội nghiệp mẹ, 40 năm qua chắc mẹ còn khổ tâm hơn anh.

(ST)

Lời cuối

Chuông điện thoại reo vang, giật mình, như cái máy, tay bật đèn đầu giường, mắt nhìn đồng hồ: 12 giờ 20 đêm. Chờ đến tiếng thứ ba mới nhấc điện thoại. Giọng thằng em từ quê nhà lạc lỏng, buông xuôi :

- Má xấu quá rồi, không còn biết gì nữa! Anh nói với Má vài tiếng đi!!

Tôi tuyệt vọng :

- Má đâu còn nghe được !?

Thằng em nài nỉ :

- Anh nói với Má vài tiếng đi, Má còn chờ anh đó !!

Tôi nghẹn ngào trong điện thoại như một lời tạ tội :

- Má ơi, con không về kịp, thôi Má hãy đi đi, đừng chờ con nữa.

Mười lăm phút sau, chuông điện thoại lại reo vang, giọng thằng em não ruột: " Má đã ra đi !"

(ST)

Một buổi sáng

Thằng bé mặc bộ quần áo rách phong phanh bước chân sáo trên đường mặc gió lạnh. Nó ghé vào một hàng phở nhỏ, nghèo nàn bên góc phố, đường hoàng nói lớn:
- Dì bán cho con tô phở ba ngàn đem về.
Bà hàng phở nhìn nó, nhưng rồi lại cụp đầu xuống.
Tưởng bà không nghe, nó nói càng to hơn. Nào ngờ, bà mắng xối xả:
- Tao không bán. Mới sáng mà mày đã tới ám tao hả thằng ăn mày! Mua ít vậy sao tao bán?
Nó cúi gằm mặt, nắm chặt mấy tờ bạc lẻ nhàu nát trong tay rồi lầm lũi bước đi. Nó chỉ muốn mua cho mẹ một tô phở nóng, nên để dành mãi từ số tiền ít ỏi bán vé số hàng ngày. Mẹ nó đau.

(ST)

Cua rang muối

Khi xưa nhà còn nghèo, mẹ hay mua cua đồng giả làm cua rang muối. Cua đồng cứng nhưng mẹ khéo tay chiên giòn, đủ gia vị nên thật ngon. Thấy các con tranh nhau ăn, mẹ nhường. Các con hỏi, mẹ bảo: răng yếu. Giờ, các con đã lớn, nhà khá hơn, chúng mua cua biển gạch son về rang muối mời mẹ. Các con nói vui:

- Cua rang muối thật đó mẹ.

Rồi chúng ăn rất ngon. Riêng mẹ không hề gắp. Các con hỏi, mẹ cười móm mém:

- Còn răng đâu mà ăn?!

(ST)

Bóng nắng, bóng râm

Con đê dài hun hút như cuộc đời. Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm. Mẹ bảo:

- Nhà ngoại ở cuối con đê.

Trên đê chỉ có mẹ, có con

Lúc nắng, mẹ kéo tay con:

- Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra.

Con cố.

Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng:

- Đang lúc mát trời, nhanh lên, kẻo nắng bây giờ.

Con ngỡ ngàng: sao nắng, râm đều phải vội ?

Trời vẫn nắng, vẫn râm...

...Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: đời, lúc nào cũng phải nhanh lên.

(ST)