Monday, November 24, 2008
Thơ cũ của nàng
Trong những chiều đông sầu
Mưa mù lên mấy vai
Gió mù lên mấy trời
Người đi qua đời tôi
Hồn lưng miền rét mướt
Đường bay đầy lá mùa
Vàng xưa đầy dấu chân
Lòng vắng như ngày tháng
Đen tối vùng lãng quên
Người đi qua đời tôi
Chiều ầm vang tiếng sóng
Bàn tay mềm khói sương
Tiếng hát nào hơ nóng
Người đi qua đời tôi
Nghe những lời linh hồn
Phi lao dài tiếng ru
Êm ái lòng hối tiếc
Trên lối về nghĩa trang
Trong mộ phần tồi đen
Người đi qua đời tôi
Không nhớ gì sao người
Em đi qua đời anh
Không nhớ gì sao em...
Trần Dạ Từ
Truyện cực ngắn, nhưng phải suy nghĩ nhiều
Trong những tác phẩm của chị, gia đình có sự mất mát chia lìa thì nhân vật "người chồng" luôn… bị chết trước vợ.
Anh giận, cho rằng chị ám chỉ mình. Chị bảo: "Nếu trang viết là cuộc đời thì em chỉ muốn anh không phải chịu nỗi buồn của người còn lại."
Vậy mà chị ra đi trước anh. Trơ trọi một mình, anh mới thấm thía nỗi chống chếnh, quạnh hiu của một tâm hồn lẻ bạn
(ST)
Vợ chồng
Mỗi lần du lịch, anh vẫn bật cười vì tính nhát gan của chị. Xe qua đèo: sợ. Lên núi cao: sợ. Biển sóng lớn: sợ. Những lúc ấy, anh lại ôm lấy chị, vỗ về:
- Đừng sợ, có anh đây. Em hãy can đảm lên nào !
Công ty phá sản. Từ cương vị gián đốc, anh quay về với hai bàn tay trắng. Anh hốc hác, suy sụp. Chị dịu dàng ôm anh vào lòng, xoa xoa mái tóc:
- Đừng tuyệt vọng, anh còn có em mà. Hãy can đảm nhé anh !
(ST)
Mồ côi
Đêm đông, nằm cạnh bố, cu Hải co ro thì thầm:
- Giá như mẹ đừng “đi xa”, thì giờ này con được nằm giữa ấm biết mấy. Chứ có hai bố con mình, ai cũng lạnh.
Bố cu Hải vỗ về con, rồi nói:
- Con đừng lo, mẹ xa rồi, có dì thay mẹ chăm con.
Cu Hải không hiểu nhưng cũng thấy mừng, vì nhà lại có thêm người đỡ vắng lạnh.
Mùa đông sau, Hải co ro nằm một mình lại nghĩ:
- Giá như đừng có dì nhỉ thì bây giờ mình đỡ lạnh một bên…
(ST)
Quà sinh nhật
Trong năm đứa con của má, chị nghèo nhất. Chồng mất sớm, con đang tuổi ăn học. Gần tới lễ mừng thọ 70 tuổi của má, cả nhà họp bàn xem nên chọn nhà hàng nào, bao nhiêu bàn, mời bao nhiêu người. Chị lặng lẽ đến bên má: “Má ơi, má thèm gì, để con nấu má ăn?”
Chưa tan tiệc, Má xin phép về sớm vì mệt. Ai cũng chặc lưỡi: “Sao má chẳng ăn gì?” Về nhà, mọi người tìm má. Dưới bếp, má đang ăn cơm với tô canh chua lá me và dĩa cá bống kho tiêu chị mang đến…
(ST)
Con Nuôi
Thầy giáo lớp 1 thảo luận với lớp về một bức hình chụp, có một cậu bé màu tóc khác mọi người trong gia đình. Một học sinh cho rằng cậu bé trong hình chính là con nuôi. Một cô bé nói:
- Mình biết tất cả về con nuôi đấy.
Một học sinh khác hỏi:
- Thế con nuôi là gì?
Cô bé trả lời:
- Con nuôi nghĩa là mình lớn lên từ trong tim mẹ mình chứ không phải từ trong bụng.
(ST)
Khóc
Vừa sinh ra đã vào trại mồ côi, trừ tiếng khóc chào đời, chồng tôi không hề khóc thêm lần nào nữa.
Năm 20 tuổi, qua nhiều khó khăn anh tìm được mẹ, nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại, một lần nữa bà đành chối bỏ con. Anh ngạo nghễ ra đi, không rơi một giọt lệ.
Hôm nay 40 tuổi, đọc tin mẹ đăng báo tìm con, anh chợt khóc. Hỏi tại sao khóc, anh nói:
- Tội nghiệp mẹ, 40 năm qua chắc mẹ còn khổ tâm hơn anh.
(ST)
Lời cuối
Chuông điện thoại reo vang, giật mình, như cái máy, tay bật đèn đầu giường, mắt nhìn đồng hồ: 12 giờ 20 đêm. Chờ đến tiếng thứ ba mới nhấc điện thoại. Giọng thằng em từ quê nhà lạc lỏng, buông xuôi :
- Má xấu quá rồi, không còn biết gì nữa! Anh nói với Má vài tiếng đi!!
Tôi tuyệt vọng :
- Má đâu còn nghe được !?
Thằng em nài nỉ :
- Anh nói với Má vài tiếng đi, Má còn chờ anh đó !!
Tôi nghẹn ngào trong điện thoại như một lời tạ tội :
- Má ơi, con không về kịp, thôi Má hãy đi đi, đừng chờ con nữa.
Mười lăm phút sau, chuông điện thoại lại reo vang, giọng thằng em não ruột: " Má đã ra đi !"
(ST)
Một buổi sáng
Thằng bé mặc bộ quần áo rách phong phanh bước chân sáo trên đường mặc gió lạnh. Nó ghé vào một hàng phở nhỏ, nghèo nàn bên góc phố, đường hoàng nói lớn:
- Dì bán cho con tô phở ba ngàn đem về.
Bà hàng phở nhìn nó, nhưng rồi lại cụp đầu xuống.
Tưởng bà không nghe, nó nói càng to hơn. Nào ngờ, bà mắng xối xả:
- Tao không bán. Mới sáng mà mày đã tới ám tao hả thằng ăn mày! Mua ít vậy sao tao bán?
Nó cúi gằm mặt, nắm chặt mấy tờ bạc lẻ nhàu nát trong tay rồi lầm lũi bước đi. Nó chỉ muốn mua cho mẹ một tô phở nóng, nên để dành mãi từ số tiền ít ỏi bán vé số hàng ngày. Mẹ nó đau.
(ST)
Cua rang muối
Khi xưa nhà còn nghèo, mẹ hay mua cua đồng giả làm cua rang muối. Cua đồng cứng nhưng mẹ khéo tay chiên giòn, đủ gia vị nên thật ngon. Thấy các con tranh nhau ăn, mẹ nhường. Các con hỏi, mẹ bảo: răng yếu. Giờ, các con đã lớn, nhà khá hơn, chúng mua cua biển gạch son về rang muối mời mẹ. Các con nói vui:
- Cua rang muối thật đó mẹ.
Rồi chúng ăn rất ngon. Riêng mẹ không hề gắp. Các con hỏi, mẹ cười móm mém:
- Còn răng đâu mà ăn?!
(ST)
Bóng nắng, bóng râm
Con đê dài hun hút như cuộc đời. Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm. Mẹ bảo:
- Nhà ngoại ở cuối con đê.
Trên đê chỉ có mẹ, có con
Lúc nắng, mẹ kéo tay con:
- Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra.
Con cố.
Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng:
- Đang lúc mát trời, nhanh lên, kẻo nắng bây giờ.
Con ngỡ ngàng: sao nắng, râm đều phải vội ?
Trời vẫn nắng, vẫn râm...
...Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: đời, lúc nào cũng phải nhanh lên.
(ST)
Dạ khúc thứ năm
Với que diêm loè sáng
Gian phòng không
Mọi người đi hết rồi
Những chỗ ngồi bỏ trống
Tôi cúi sâu mặt bàn
Những ngón tay buồn so
Trang sách vô hình mở
Và mọi người đi qua
Không một lời nào nữa
Tôi cúi sâu lòng mình
Và que diêm tắt phụt
Sự lãng quên rõ dần
Tất cả đều nín thinh
Tất cả đều ngủ yên
Trừ một người...
Trong trí nhớ....
Trần Dạ Từ
Saturday, November 22, 2008
Nhật ký Anne Frank
Anh Nhi
http://evan.com.vn/News/chan-dung/2006/11/3B9AD542/
Anne chết tại trại tập trung, nhưng những gì cô mong muốn, “tiếp tục sống, ngay cả khi chết đi” đã trở thành hiện thực. Nhật ký của cô đã được xuất bản và trở thành một nhân chứng có sức sống động ghê gớm tới lương tri của con người.
Cuốn nhật ký của một số phận bi thảm
Cuốn nhật ký Anne Frank được tìm thấy trong căn gác áp mái ở Hà Lan, nơi mà cô bé và gia đình đã sống hai năm cuối (1942-1944) của cuộc đời mình trong quá trình trốn chạy khỏi bàn tay hủy diệt của phát xít Đức với người Do Thái.
Một ngày ngồi chống tay vào cằm, và cảm thấy sự tẻ nhạt, chán ngán, uể oải, cô bé mười ba tuổi bắt đầu viết nhật ký với lý do không có một người bạn thật sự nào. Theo tự sự của cô bé, chắc chả ai tin, cô là một người có ba mẹ yêu quý, một chị gái 16 tuổi, quen 30 người có thể là bạn, hàng lô bạn trai và ai cũng mong được cô bé để mắt một tí và hàng lô cậu khác không được mình nhìn đến thì chỉ muốn nhìn trộm cô bé qua những tấm gương.
Họ hàng không thiếu, mái nhà cũng ấm cúng, ấy nhưng, để là một người thân thiết thực sự thì không có ai cả. Cô đặt tên cho cuốn nhật ký của mình là Kitty.
Cô bé Anne rất trung thực với trang viết, cô không bao giờ thỏa hiệp với chính mình và là con người có cá tính. Anne Frank viết nhật ký trong vòng 2 năm cho đến 4 ngày trước khi cả gia đình cô bị bắt vào trại tập trung, lúc đó, cô 15 tuổi. Cuộc sống bí mật trong bầu không khí ngột ngạt, lo sợ, những trục trặc của sinh hoạt thường ngày, những ước mong không bao giờ có được của những người đang lánh nạn diễn ra trong chái nhà bí mật đó. Cô bé thương mẹ nhưng phải buồn bã mà thú nhận rằng cô yêu ba hơn yêu mẹ, và hiểu một người bạn hơn là hiểu mẹ. Cô không muốn sống như mẹ, cô phải là người mạnh mẽ nhất, phải là một nhà báo, một nhà văn giỏi, chứ không mơ làm bà đỡ như chị gái của mình. Nhưng 1 năm sau, khi nhìn nhận lại những gì mình đã viết, Anne dường như trưởng thành và mong muốn tự hoàn thiện mình hơn. “Mình thương mẹ, thương mẹ lắm lắm, lần đầu tiên trong đời mình thấy mẹ đau khổ vì sự lạnh nhạt của mình.”… “Cái thời gian mình khiến mẹ phải rơi nước mắt qua rồi. Mình lớn khôn hơn, và thần kinh mẹ đã đỡ căng thẳng hơn trước”.
Vì chiến tranh, và tránh sự hủy diệt của phát xít Đức, Anne Frank không được đi học nữa, nhưng cô vẫn tự học và đọc rất nhiều sách vở, học nhiều thứ tiếng ngoại ngữ khác, và giữ được niềm say mê viết.
Nỗi cô đơn và sự tuyệt vọng
Không khí ngột ngạt trong tâm trí của Anne, cô bé không nghe thấy một tiếng chim hót bên ngoài. Sự im lặng chết chóc bao trùm kín mít khắp nơi, giữ chặt lấy con người, như muốn lôi con người vào địa ngục.
Đó là những ý nghĩ của một con người có ý nghĩ già dặn, biết suy nghĩ về thời cuộc, về cuộc sống bản thân. Sự nhạy cảm làm cho Anne cảm thấy cô đơn, bao bọc bởi một sự trống rỗng to lớn. Tuy lòng nhân ái khi nghĩ tới những người khốn khổ khác, đầu óc cô chợt choáng váng. Sự chờ đợi không biết nỗi khốn khổ bao giờ mới chấm dứt. Người Do Thái và người Cơ đốc chờ đợi, cả trái đất chờ đợi và có biết bao nhiêu người chờ đợi cái chết. Người Do Thái phải đeo trên áo ngôi vàng, không được ăn ở các nhà hàng, không được đi xe chung, học trường riêng. Nỗi lo sợ làm cho cô bé Anne đến hai tháng qua không thấy bị hành kinh, cô muốn khao khát nhìn thấy một cơ thể nào đó khác mình, một cơ thể bạn gái khác cũng được, và đến một lúc nào đó, cô nhận ra rằng, không phải cái cô mong đợi là một bạn gái, mà là một người bạn trai.
Một cô bé mười mấy tuổi, mà tự đặt câu hỏi cho mình, cô ghi trong nhật ký: “Mình cứ tự hỏi nhiều lần rằng không hiểu có tốt hơn nếu bọn mình đã chết thì sẽ không phải trải qua tất cả những nỗi khốn khổ này, nhất là sẽ không đầy những người đã che chở bọn mình vào nguy hiểm hơn nữa”. Nỗi sợ hãi kêu gào trong cô bé, cô muốn cái yên tĩnh giả tạo kia, và nỗi sợ hãi khủng khiếp kia trôi đi nhanh hơn, bởi vì không có cách nào giết nổi nỗi sợ và sự yên tĩnh ấy. 8 người trong chái nhà nhỏ bí mật giống như một mẩu nhỏ của bầu trời xanh giữa những đám mây giông đen kịt. Anne viết: “Giá như cái vòng tròn đen kịt kia có thể lùi ra và mở cho chúng con một cánh cửa”.
Chính trị và niềm tin
Sự thống khổ mà Anne và gia đình trong những năm tháng lánh nạn trên tầng áp mái đó làm cho cô bé suy nghĩ và phẫn nộ, uất ức về tình cảnh đang diễn ra. Sự chịu đựng, không biết kết thúc như thế nào làm cho họ mòn mỏi. Anne viết: Ai gây ra cho bọn mình điều này? Ai đã làm cho người Do Thái khác với dân tộc khác? Ai đã cho phép bọn chúng bắt bọn mình phải chịu đựng những đau khổ khủng khiếp như vậy?
Bên cạnh một tâm hồn nhạy cảm, Anne rất mạnh mẽ, thích độc lập. Phương châm sống của một cô bé 15 tuổi là biết điều mình muốn, có một mục tiêu, một quan điểm, có tín ngưỡng và có tình yêu, phải dũng cảm và vui tươi. Cô bé tin rằng bản chất con người vẫn tốt đẹp. Anne không xây đắp các hy vọng trên một nền móng bao gồm những bối rối, khốn khổ và cái chết. Cô thấy thế giới đang dần chuyển thành một sự hoang dại, cô nghe những tiếng sấm đang đến dần, hủy diệt con người, và cô cảm thấy rõ nỗi đau khổ của hàng triệu người nhưng ở Anne, niềm tin vẫn vô cùng mãnh liệt, “nếu ngước nhìn lên bầu trời mình nghĩ rằng mọi chuyện ổn thỏa, cái tàn nhẫn sẽ chấm dứt, rằng hòa bình và yên tĩnh sẽ trở lại.”
Tôi muốn tiếp tục sống, ngay cả sau khi đã chết đi
Cuốn nhật ký dừng lại ngày 1/8/1944. Ngày 4/4/1944, qua sự chỉ điểm của một kẻ đê tiện người Hà Lan, quân Đức đã phát hiện, bắt giam và chuyển gia đình Anne Frank tới trại Auschwitz ở Ba Lan. Ông bố Otto Frank là người duy nhất trong gia đình còn sống sót và trở về Amsterdam, Hà Lan. Anne và chị gái Margot bị đưa tới trại Bergen- Belsen thuộc miền trung nước Đức và chết năm 1945.
Anne chết tại trại tập trung, nhưng những gì cô mong muốn, “tiếp tục sống, ngay cả khi chết đi” đã trở thành hiện thực. Nhật ký của cô đã được xuất bản và trở thành một nhân chứng có sức sống động ghê gớm tới lương tri của con người.
Bé Ký, nỗi hoài nhớ niềm vui đã khuất
Văn chương và hội họa là những nghệ thuật bắt nguồn bằng nét (dessin). Chữ viết khởi từ nét, ngay trong cách viết chữ nho, người ta đã muốn vẽ vũ trụ và con người qua ngôn ngữ. Cho nên, chúng ta không nói quá, khi cho rằng chính dessin mới là nguồn của văn chương và hội họa.
Các họa sĩ thường bắt đầu từ dessin rồi dựa vào dessin mới phóng ra các màu sắc khác nhau. Bé Ký dừng lại ở dessin. Dường như bà đã tìm thấy vùng đất Thánh và dứt khoát ở lại thiên đường nguồn cội của mình. Bà không lớn nữa. Có thể nói Bé Ký -như cái tên lựa chọn có ý tiên định của bà- đã lấy tuổi thơ làm quê hương, dừng lại ở thời điểm hàn vi, ngây thơ (naĩf) trong hội họa và trong đời. Bé Ký là hiện tượng không già, rất độc đáo trong hội họa Việt.
Nếu biết rõ dessin là gì, thì sẽ thấy sự lựa chọn này không dễ dàng, bởi con đường đơn giản bao giờ cũng là con đường khó khăn. Văn mà đạt tới mức không rườm là khó. Vẽ mà đạt tới mức giản dị tối đa không dễ.
Hội họa Bé Ký chỉ thuần túy nét, bà dùng mực Tàu, ở lối vẽ này cứ hoa tay lên là phải thành, phải đạt, không thể sửa. Trước khi vẽ, người họa sĩ phải xong bức họa rồi. Khi ngọn bút bắt đầu là bức tranh kết thúc. Ðây là một quy luật khác thường, vì trong hội họa, trước khi vẽ, có thể họa sĩ chưa biết mình sẽ đi đâu, đường nét và màu sắc sẽ dẫn lối cho họ; cũng như trong văn, ý nọ sọ ý kia, ý trước "đẻ" ra ý sau. Với Bé Ký, sự thể ngược lại: Trước khi vẽ, bức tranh đã phải "xong" rồi, và đặt bút là kết thúc tác phẩm.
Tính chất này của hội họa còn gọi là ngẫu hứng hoặc trực giác, mà cũng là thiền: Trực giác định hình, khi người nghệ sĩ thấy được "ánh sáng", "ngộ" rồi thì họ hoàn thành tác phẩm. "Ánh sáng" ấy là chất liệu, là nguồn cội của ký họa.
Trong thế giới hội họa của Bé Ký, nhân vật, động vật và tĩnh vật, rọi lọc qua ánh sáng giác ngộ, có những nét hồn nhiên và ngây thơ. Từ con trâu, em bé, đến chiếc xe thổ mộ, cái váy của người đàn bà, chiếc khăn mỏ quạ, tóc vấn đuôi gà... tất cả đều thoát ra một cái gì chân chất, rất lành, rất mộc mạc như chưa từng có lớp sơn màu lòe loẹt nào bay đến làm ô uế, ô nhiễm đi.
Bé Ký trong hội họa cũng như Nguyễn Bính trong thơ, sợ sự trưởng thành; cả hai đều đã cấu tạo nên được vũ trụ quê của riêng mình. Quê mùa như thơ Nguyễn Bính, thế giới người, đồ vật và sinh vật của Bé Ký, hòa hợp với nhau, chung sống với nhau trong khung cảnh điền dã, giản dị, nghèo nàn, sinh động và hạnh phúc.
Người xem tìm thấy nguồn vui tự tại trong tranh, kèm nỗi nhớ nhung vô bờ và nỗi buồn man mác, về những ký ức tuổi thơ không bao giờ trở lại.
Hội họa Bé Ký thể hiện niềm vui đã khuất, hiện tại vô tình dẫm lên mà không biết, không hay.
Người Việt phần đông thích tranh Bé Ký, treo tranh Bé Ký, nhưng có mấy ai tìm thấy ở mỗi bức họa của Bé Ký, là một mất mát của con người. Chúng ta bán tuổi thơ đi để mua tuổi già, phá thiên nhiên, đổi thôn quê để chuốc lấy thành thị, chúng ta giã từ niềm vui vào đời để bước dần về nỗi buồn cõi chết.
May có người nghệ sĩ giữ lại cho chúng ta ít nhiều kỷ niệm.
Thuỵ KhuêNgười anh xấu số
Nhưng lòng người mẹ càng nghiêng xuống đứa con thứ bao nhiêu thì lại càng xa đứa con cả bấy nhiêu. Mẹ tôi ví chúng tôi như cây mía có ba đốt đều nhau, sinh cách nhau đúng bảy tuổi, ba đốt mà một đã bị sâu, còn hai đốt kia thì "chưa biết".
Có lần, tôi hỏi mẹ tôi:
- Tại sao anh cả con lại là đốt mía cuối bị sâu đục hả mẹ? Sao anh hai lại được là đốt giữa?
Mẹ tôi gắt:
- Rồi mày liệu, không lại sâu nốt, con ạ.
Mà kể ra anh hai tôi cũng xứng đáng là đốt mía giữa thật. Anh có vẻ dịu dàng và phong nhã. Miệng anh cười rất xinh, làm núng hai đồng tiền ở má. Anh hai tôi ít nói, mà đã nói thì hết sức chắc chắn. Mẹ tôi yêu anh và gửi gắm vào anh những ngày già sắp rụng. Anh tôi chải tóc lật ra hai phía gáy, làm nổi rõ lên cái đường ngôi thẳng tắp. Bắt chước anh, tôi nhất định nuôi tóc để chải cho đẹp, nhưng mỗi lần thấy hàng thợ húi rong đi qua, mẹ tôi hay nhìn đầu tôi mà bảo:
- Bé định búi tóc hay sao mà chưa thiến bớt nó đi?
Nhìn cái tăng đơ tàn nhẫn cày từng mảng tóc âu yếm của tôi lên, tôi hùng hổ bảo người thợ:
- Sao anh không cắt mẹ nó cái đầu tôi đi luôn thể?
- Bà dạy thế. Vả lại cắt ngắn tóc cho mát, cậu ạ.
Tôi không nén nổi tiếng khóc vì bực tức:
- Hu hu... nhưng tôi muốn... bức kia mà!
Cuối năm ấy, ba anh em chúng tôi được chụp ảnh chung với nhau để gửi về quê nội. Bức ảnh đó, tôi vẫn còn giữ được, tuy thời gian đã làm phai nước đi. Cách một ngày trước hôm chụp ảnh, anh hai tôi đã lo lắng về quần áo. Anh cả tôi lớn rồi nên tỏ vẻ lãnh đạm. Tôi thì chỉ suốt ngày ngắm anh hai tôi.
Rồi sáng hôm sau, chững chạc quá, anh hai tôi diện một bộ quần áo sọc, mái tóc chải dẹt xuống, hai mắt tươi cười, tay cầm một chiếc mùi soa.
Đến anh cả tôi mới thật khiếp! Anh mặc một bộ quần áo tây của ba tôi sửa lại, vai cứ dốc xuống, đôi ống quần bó lấy bắp chân như xà cạp. Tôi đã mất công lục hết rương hòm, rồi để chịu mặc một cái áo rộng tay và cái quần ngắn cỡn, vì có bao giờ mẹ tôi may cho tôi được một bộ quần áo nào vừa ý đâu. Cái thì rộng, cái thì hẹp, cái làm tôi đang gầy hóa béo, đang lớn hóa lùn. Nhưng cái nào cũng đẹp hết, vì mẹ tôi bảo: áo tàu mặc thế nào cũng... chững!
Ba chúng tôi ra ngoài sân với một cái ghế. Anh cả tôi ngồi giữa, tay cầm quyển sách. Anh hai tôi đứng chống nạnh bên cạnh. Tôi nhỏ, đứng vòng tay cho có vẻ lễ phép, đôi mắt đờ nhìn vào ống máy ảnh. Mẹ tôi ngắm kỹ ba chúng tôi rồi bỗng giận dữ:
- Trông con mắt thằng cả! Cứ long lên sòng sọc thế kia, trách nào!
Tôi nghe anh cả tôi thở dài một cái. Tôi biết trong nhà sắp có chuyện, nên đưa mắt liếc anh hai tôi. Lúc người thợ ảnh sửa lại dáng điệu cho chúng tôi, mẹ tôi lại nhìn anh cả tôi, lè bã trầu ra ngoài miệng, giọng gắt gỏng:
- Người thì cứ sừng sững ra ấy!
Anh cả tôi vùng đứng dậy, bước ra ngoài, vất lại mấy tiếng:
- Để cho hai đứa nó chụp!
Mẹ tôi nóng tiết, quăng que củi cầm trong tay theo anh, gắt ầm nhà. Anh hai tôi bấm vào đít tôi một cái, dấu hiệu giữ mình chúng tôi vẫn báo cho nhau vào giờ phút nghiêm trọng. Mẹ tôi bảo ông thợ ảnh:
- Ông cứ chụp cho hai cháu cũng được. Thằng con đầu của tôi chết rồi!
Do một sự hớ hênh rất có ý nghĩa của người thợ ảnh, tấm hình được chụp ra với cái chỗ trống anh cả tôi bỏ lại. Đôi mắt tôi, mỗi lần đặt lên bức ảnh, chợt thấy thiếu một cái gì, và điều này làm tôi bồi hồi, cảm động. Tôi chạnh lòng, thấy số phận của anh cả tôi hẩm hiu quá. Ngày xưa cũng như ngày nay, người anh đau khổ ấy vẫn bước những bước cô quạnh trong cuộc đời, sống với mình hơn là sống với người xung quanh, nóng nảy và liều lĩnh.
Một lần đang ngồi ăn cơm với nhau, không nhớ tôi nói hỗn điều gì, anh cả tôi ném ngay cái bát vào mặt tôi. Cơn nóng nổi lên, tôi quăng trả cái chén, và cứ thế, chúng tôi nhảy vào nhau, đấm nhau, cắn nhau.
Thường thường, sau những phút giận dữ như trên, tôi thấy lương tâm bị giày vò, day dứt. Tôi dịu ngọt làm thân với anh cả tôi, nhưng chỉ được vài ngày, chúng tôi lại xem nhau như thù địch. Có điều mãi đến nay tôi vẫn lấy làm lạ, là càng ghét anh bao nhiêu, tôi lại càng thương anh bấy nhiêu.
Trước đây, anh cả tôi có quen biết một người con gái mà đôi mắt, tôi còn nhớ, tròn như đôi mắt bồ câu. Nhưng tình yêu vốn là thứ hay vỡ vì bất cứ một cái chạm nhẹ nào, anh tôi đã thấy chết mối tình đầu âm thầm và vô vọng, rồi về quê nội lấy một người vợ mà tôi chắc rằng anh không yêu lắm.
Đây là một đoạn đời bất thường của anh cả tôi ở bên quê nhà do chính anh thuật lại:
- ... "Thế rồi đến lượt anh. Anh bị trói gô vào một xâu cùng với những người khác, chỉ vì anh là người lạ mặt lạc vào thành phố, đúng cái hôm nổ ra cuộc cách mạng đánh đổ nhà Mãn Thanh. Cây súng, anh còn nhớ rõ, cây súng có cái nòng ngắn, nhưng anh thấy nó đen ngòm và sâu không đáy. Bốn người bên anh đã ngã gục xuống, và sắp đến lượt anh..."
Tôi sợ quá, nhảy chồm lên, hỏi:
- Thế người ta có bắn anh không?
Anh hai tôi đang nghe chuyện, vênh mặt lên bảo anh cả tôi:
- Bé nó hỏi thật dở nhỉ? Đã bắn rồi thì làm gì còn sống mà ngồi kể chuyện nữa!
Anh cả tôi kể tiếp:
- ..."Thế rồi đến lượt anh. Nhưng lúc cây súng sắp giơ lên thì cũng là lúc cây súng... hạ xuống. Khi ấy là vào đúng ban trưa, vì anh nhớ rõ là trời nắng lắm. Thì ra hôm anh bị bắt, ông nội chúng mình đi vắng. May ông về kịp, hối hả gom góp được một món tiền và thuốc phiện lên biếu quan huyện. Thế là quan sai lính phi ngựa ra pháp trường, hô tên anh là Ho Yan lên, và cứu thoát!"
Nghe xong chuyện, anh hai tôi bấm tôi ra chỗ vắng mà bảo:
- Anh cả anh ấy bị một mẻ mất vía, nên từ đó anh mất vía luôn. Cứ buổi trưa trở đi là anh như người lẩn thẩn, và đêm nào cũng lảm nhảm nói mê.
Anh cả tôi có một tâm trạng đúng như vậy. Chị dâu tôi cứ việc yên lặng nằm bên cạnh mà cũng biết hết anh đã làm gì, nghĩ gì hay bậy bạ gì trong ngày hôm ấy.
Một lần, mẹ tôi mất năm chục bạc. Đến đêm, anh cả tôi tự khai ngay ra:
- Còn khoắng một mẻ nữa là ít. Ngần ấy đã ăn thua gì!
Đại để là thế. Ban ngày, anh tôi tính toan gì trong bụng, thì đến đêm nói hết ra ngoài miệng. Tâm hồn anh như căn lều trống, gió thổi qua không vướng một bức vách, thổi một mạch, thổi vù vù.
Trước đây mấy năm, và đây cũng là nguyên do khiến mẹ tôi ghét anh, một chiều đi học về, tôi ngạc nhiên thấy một quang cảnh đổ vỡ bừa bãi. Mẹ tôi, bên cạnh là người đầy tớ trai, đang giận dữ ném các đồ vật vớ được về phía anh, dồn anh vào một góc tường. Anh tôi không kêu, không khóc, nhưng nét mặt xạm lại, một nỗi hằn học lẫn đau đớn vỡ tràn trong cặp mắt ngầu đỏ.
Cuối cùng, tôi thấy anh cả tôi kêu lên một tiếng, ngã xuống: một dòng máu chảy ra trên vai anh, thấm vào manh áo rách. Trong cảnh hỗn loạn, bỗng nhiên, anh tôi vớ được một thanh mác, thứ khí giới phòng kẻ trộm hồi ba tôi còn sống, lao về phía trước mặt. Mũi mác cắm phập vào chiếc tủ đứng, và tiếng mẹ tôi la lên:
- Nó giết, nó giết tôi, các ông, các bà ơi!
Thực ra đó chỉ là cách chống đỡ điên cuồng và tuyệt vọng của một người bị thương, gần như loạn óc. Sau tiếng kêu của mẹ tôi, tôi nóng mắt, sẵn hòn gạch vớ được, ném về phía anh...
Từ đấy, mẹ tôi vẫn dùng hai tiếng "sát nhân" gán cho anh, mỗi lần tức giận. Lòng mẹ tôi đã gần như mất hết thiện cảm đối với giọt máu của mình, đốt mía sâu đục. Còn tôi, tôi không thiếu tình thương hại mỗi lần tôi nghĩ đến người anh đau khổ, nghĩ đến cái gì không tươi đẹp đã làm hoen ố cả một quãng đời của ba chúng tôi.
***
Rồi anh Cả tôi mất vào một năm lụt lội, đói kém. Anh bỏ nhà, đi lên miền ngược, tìm lại những người bạn ngày xưa, vì anh vừa đói cơm trắng lại vừa đói cơm đen. Nhưng anh đã chết ở dọc đường vì kiệt sức. Dân địa phương đi qua, làm phúc vùi tạm xác anh ở một góc rừng đâu đó.
Hôm được tin anh chết, tôi ở xa không về được, chỉ có chị dâu tôi và đứa cháu đầu lòng thất thểu kéo nhau đi tìm xác anh. Mẹ tôi thì già yếu, nhặt nhạnh được một thúng lá chuối khô, dặn chị tôi mang theo.
Tôi thương anh tôi khi anh còn sống, hơn là khi đã chết. Chết như anh là thoát. Tôi thương những giọt nước mắt mẹ tôi chắt ra từ đáy lòng để khóc lần cuối cùng đứa con dại dột. Và tôi hay nghĩ đến bó lá chuối khô của mẹ, thứ "cây nhà lá vườn", không tốn tiền mua, mà chị dâu tôi mang theo để gói hài cốt của chồng.
1942
Rút từ tập Hồ Dzếnh - Tác phẩm chọn lọc.
Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1989
Saturday, November 15, 2008
Miếng da lừa - Balzac
Chàng thanh niên Raphael de Valantin xuất thân từ một gia đình quý tộc bị phá sản, lớn lên trong xã hội Paris thế kỷ 19, tài năng, có chi hướng, kiên định. Ban đầu anh cam chịu, quyết tâm, sống nghèo nàn trong một gian gác xép, khắc khổ như một tu sĩ, cần cù học tập, để nuôi dưỡng ước mơ của chính mình : viết ra một tác phẩm kinh điển. Raphael mang trong mình hoài bão sáng tác ra những tác phẩm lớn lao phục vụ cho nhân loại.
Nhưng chuyện nuôi dưỡng ứơc mơ đó không đồng nghĩa với một ông-thánh-sống đang tồn tại trong lòng Raphael. Anh khao khát giàu sang, anh ước ao có được tình yêu và muốn sống cảnh yêu được trong nhung lụa.
Raphael đã từng có một tuổi trẻ rất nồng nhiệt, anh tin tưởng ở con người, ở quyền năng của lý trí. Nhưng chẳng bao lâu sâu, anh cay đắng nhận ra sự lãnh đạm ghê gớm, tàn nhẫn của xã hội đối với công việc của anh cũng như với bản thân anh, với cả những cái gì gọi là vẻ đẹp đích thực của cuộc sống. Trong xã hội đó, trí tuệ, tài năng, nghị lực của anh không đáng giá một xu và anh không thể sống nếu anh chỉ có từng ấy thứ.
Niềm tin bị lung lay, hoài bão lý tưởng tan vỡ, Raphael lao vào những cuộc ăn chơi trác tác truỵ lạc với Rastinhac, đau đớn nhìn những nhà văn kém tài đức được tâng bốc trong cái xã hội thượng lưu ấy. .
Rồi một bữa, không kiên trì được, anh nghe theo bạn từ bỏ cuộc đời lao động nghèo khổ để chạy theo cuộc sống phóng đãng, phù hoa của xã hội thượng lưu. Và anh yêu..Anh yêu say mê nữ bá tước Fedora, một tượng đá, người đàn bà thời thượng có sắc đẹp và tiền của nhưng lại vô tình, kiều diễm nhưng phù phiếm, đỏm dáng mà vị kỷ, không tâm hồn, thiếu một trái tim. Vì tình yêu đó, anh sẵn sàng từ bỏ Polin, con gái bà chủ nhà nơi anh trọ học, mặc dầu sự ân cần chăm sóc của hai mẹ con nàng. Polin trong trắng và thuần khiết của anh mà mãi cho đến cuối đời anh mới nhận ra được
Raphael yêu Fedora điên cuồng, anh trở thành một ngừơi si tình đúng nghĩa, số gia sản ít ỏi của anh đựơc nướng sạch vào những chiếc găng tay mới tinh, những bộ đồ mới, những lô ngồi trong rạp hát, những bó hoa mà Fedora chỉ ngửi một lần rồi quăng bỏ. Rafaen chìm đắm trong thế giới của tình yêu cho đến khi chàng nhận ra Fedora không phải của chàng, Fedora cũng không của Racxtinhac, Fedora không phải của Emil, không của bất kỳ một ông quận công nào.. nàng không thuộc về ai để tất cả phải là của nàng.
Đây là đoạn văn vết về Fedora. Valantin sau khi kể cho Emil nghe về mối tình tuyệt vọng của mình với người-đàn-bà-không tim Fedora, đã kết chúc câu chuyện bằng một câu :
"Tôi không nói hết với cậu những lời cay chua mà tôi vừa nói với nàng vừa cười, thế nhưng lời nói sắc nhọn nhất, điều mỉa mai cay độc nhất không làm cho nàng có một cử động, một cử chỉ hờn giận. Nàng vừa nghe tôi nói vừa giữ trên môi, trong con mắt, cái nụ cười quen thuộc của nàng, nụ cười nó như chiếc quần áo nàng khoác lên mình, và vẫn nụ cười đó đối với bạn thân, đối với những người chỉ quen biết, đối với khách lạ.."
Bạn có thể tìm thấy Fedora ở đâu ?
"Fedora à, anh sẽ gặp nàng. Đêm qua nàng ở rạp Bupphông, tối nay nàng sẽ tới Viện ca kịch, ở đâu cũng thấy nàng, nếu anh muốn, nàng chính là cái xã hội này."
Cuối cùng anh bị Fedora cự tuyệt. Đau đớn, anh lăn mình vào những cuộc hành lạc cho tới khi khánh kiệt, anh định ra sông tự tử.
Nhưng vừa lúc đó, Raphael được cứu thoát bởi một một miếng da lừa tìm thấy trong tiệm bán đồ cổ. Miếng da to như tấm địa đồ, là tượng trưng cho cuộc đời anh. Miếng da đầy uy quyền và có phép màu làm thỏa mãn mọi ước nguyện của anh, nhưng mỗi lần được toại nguyện thì miếng da lừa co lại và tuổi đời của anh lại giảm đi.
Với miếng da, Raphael trở thành con ngừơi quyền lực nhất, anh sống giàu sang, trả thù đựơc tất cả mọi người. Anh gặp lại Polin cũng trở nên giàu có, anh định kết hôn với nàng thiìđây lại là khoảng thời gian anh sống quằn quại nhất. Raphael - một đôi mắt trẻ trung trong thân hình già cỗi. Anh trở nên quá già để có thể thưởng thức một đoá hoa, ăn một món ăn ngon hay đi thưởng ngoạn một thắng cảnh đẹp. Lo sợ trước cái chết và không sao phá được phép thiêng của tấm bùa, Raphael tìm cách xa lánh mọi ngừơi, sống như cây cỏ, không ước mơ, không hy vọng.
Cái chết vẫn là cái chết, trong cơn hoảng loạn cuối cùng, Raphael đã ứơc mơ đựơc ân ái với Polin và chết trong tay nàng.
Cái chết của Raphael để lại cho người ta cả bức tranh xã hội đương thời ghê tởm và đáng khinh bỉ. Bạn có biết Taylor đã trắng trợn tuyên bố như thế nào không ? "Thưa các ngài, xin nâng cốc chúc cho quyền lực của vàng. Ông De Valantin trở thành sáu lần triệu phú là nắm được mọi quyền hành. Từ đây, đối với ông ấy, lời ghi trên đầu Pháp điển :"Mọi người Pháp đều bình đẳng trứơc pháp luật" là một lời nói láo. Ông ấy sẽ không tuân theo pháp luật, pháp luật sẽ tuân theo ông ấy. Đối với các bậc triệu phú thì không có đoạn đầu đài, không có đao phủ." Liệu còn lời nào điển hình hơn không để nói về xã hội tư sản do đồng tiền ngự trị ? Không.
Đến khi Raphael trở nên bệnh hoạn, cái xã hội thượng lưu ấy lại hiện lên với tất cả vẻ tàn nhẫn, cay độc của nó thông qua hình tượng đám ngừơi thượng lưu sống nhàn hạ ở suối nứơc nóng (nơi Raphael chữa bệnh). Cuộc xung đột đó đã nói lên cái man rợ của đồng tiền : "Cái xã hội hào hoa trục xuất ra khỏi nó những kẻ đau khổ, như một ngừơi tráng kiện tống ra khỏi thân thể mình một nguyên tố bệnh tật. Xã hội thượng lưu kinh hãi những đau thương và bất hạnh, nó sợ chúng như bệnh lây, nó không bao giờ do dự giữa chúng và thói hư: thói hư là một xa xỉ phẩm."
Phải, Raphael đã chạy theo cái xa xỉ phẩm đó cho đến tận khi nhận ra cái chết đang treo trên đầu mình. Raphael lòng đầy tham vọng nhưng tinh thần yếu đuối. Lỗi tại Raphael à ? Không, khi cái xã hội ấy nó vẫn còn như thế, không bao giờ chỉ dừng lại ở 1 Raphael.
Miếng da lừa là tác phẩm đầu tiên đưa Balzac lên đài danh vọng bởi tính tố cáo hiện thực của nó. Vậy sự xuất hiện của miếng da lừa - một hình ảnh mang tính chất siêu nhiên - liệu có làm cuốn tiểu thuyết mất đi chất hiện thực ?
Hãy gạt bỏ bớt các đề tài khác trong một thời gian để cố mà đọc cuốn sách này, vì NÓ LÀ MỘT TRƯỜNG ĐỜI THỨ THIỆT ”! Nó vẫn còn nhiều cái đáng để cho chúng ta suy nghĩ về thực trạng cuộc sống của xã hội ta hôm nay...
