Monday, July 20, 2009

So Sánh Đoạn Trường Tân Thanh và Kim Vân Kiều Truyện

Đối chiếu Đoạn Trường Tân Thanh với Kim Vân Kiều Truyện, ta thấy cụ Nguyễn Du đã giữ nguyên diễn biến câu chuyện. Tuy nhiên, cụ đã lược bỏ rất nhiều chi tiết không cần thiết cho tác phẩm, điển hình là cụ đã bỏ hoàn toàn hồi thứ 6 của Kim Vân Kiều Truyện và tóm lược hồi 5 trong chỉ 20 câu thơ.

Trong một bài biên khảo đăng trong tuyển tập “Nguyễn Du, Tác Giả và Tác Phẩm” do nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành năm 1999 tại Việt Nam [2], các tác giả Nguyễn Thạch Giang, Triệu Ngọc Lan, và Lô Úy Thu đã bỏ công tìm tòi những phần trong Kim Vân Kiều Truyện đã bị cụ Nguyễn Du lược bỏ. Khi so sánh Đoạn Trường Tân Thanh với Kim Vân Kiều Truyện do Xuân Phong Văn Nghệ xuất bản, các tác giả này nhận thấy cụ Nguyễn Du đã loại bỏ 142 trang trên tổng số 214 trang, tức khoảng 2/3 tác phẩm. Cụ chỉ giữ lại 72 trang và dùng các chi tiết trong số trang này để viết thành 1313 câu thơ trong tổng số 3254 câu của Đoạn Trường Tân Thanh. Như vậy, 1941 câu còn lại do chính cụ sáng tác. Thêm nữa, cụ đã loại bỏ khá nhiều nhân vật phụ trong Kim Vân Kiều Truyện cùng các hành động của họ, và nhiều lúc sắp xếp lại các diễn biến để câu chuyện được tự nhiên. Vì vậy, tác phẩm của cụ trở nên chặt chẽ và lôi cuốn hơn rất nhiều. Điều này minh chứng được rằng Đoạn Trường Tân Thanh không phải chỉ đơn thuần là môt tác phẩm dịch như một số người lầm tưởng.

Trong pham vi hạn hẹp của bài báo, xin mời quý độc giả so sánh sự khác biệt giữa Đoạn Trường Tân Thanh với Kim Vân Kiều Truyện trong một phần khá hấp dẫn của câu chuyện. Đó là phần tả cảnh Kiều dựa vào uy thế của Từ Hải để trừng phạt những kẻ cựu thù. Phần trong Kim Vân Kiều Truyện do ông Tô Nam Nguyễn Đình Diệm chuyển ngữ từ bản A953 nêu trên [4].

· Cuộc xử oán trong Kim Vân Kiều Truyện:

... Bấy giờ trong dinh bắt đầu nổi lên một tiếng trống hiệu, bọn lính tay cầm cờ mầu lam hô to lên rằng: Đem bọn phạm nhân lớp một vào hầu. Hạ Báo (một viên tướng của Từ Hải - ghi chú của Ngày Nay) liền dẫn Hoạn thị, Kế thị (tức mẹ của Hoạn Thư), Bạc Bà, Bạc Hãnh vào quỳ dưới sân.

Phu nhân bắt đầu tuyên bố tội trạng: Mụ Bạc Bà kia đẩy người vào trong cạm bẫy, còn tên Bạc Hãnh, bán người lương thiện vào nhà xướng ca. Vậy theo đúng lời thề trước của mi, lấy dao vằm nát thân thể, rồi cho ngựa ăn. Còn mụ Bạc thì đem chặt đầu bêu lên ngọn cây phía trước.

Bọn đao phủ được lệnh dạ lên một tiếng, tức thì lôi mụ Bạc Bà đem ra chặt đầu. Còn Bạc Hãnh thì dùng chiếu bó như bó củi, ngoài quấn dây thừng thật chặt, rồi hai người giữ, một người cầm cưa, cắt từ dưới chân lên đầu thành hơn 100 đoạn. Ghê thay một cái thân hình như vậy mà trong giây phút thịt nát như bùn, người coi ai cũng hoảng hồn chết ngất. Bọn đao phủ vào bẩm đã thi hành xong, phu nhân truyền đem đống thịt trộn lẫn với cỏ để cho ngựa ăn.

Kế đó, gọi đến phạm nhân họ Hoạn. Họan Thư chẳng còn hồn vía, kêu xin phu nhân tha thứ tính mạng kẻ hèn này.

Vương phu nhân rằng: Hoạn tiểu thư, nhà ngươi có nhiều mưu chước hay và cũng có gan nhẫn nại đó. Nhưng mà bất cứ việc gì cũng nên để lại chút tình, thì sau gặp gỡ khỏi ngượng. Vậy nay ngươi gặp lại ta, nhất định không thể sống được.

Hoạn Thư khấu đầu lia lịa thưa rằng: Tội của tiện thiếp thực đáng muôn chết, nhưng xin phu nhân nhớ lại trước kia phu nhân viết tờ cung trạng, làm thiếp tôi động mối tình thương, nên đã để phu nhân viết kinh trên Quan Âm Các. Rồi khi phu nhân bước ra khỏi cửa, thiếp chẳng hề đuổi theo. Cái đó đủ biết lòng riêng riêng vẫn kính yêu, chỉ vì thế bất lưỡng cập (tình thế không cho phép đứng đôi), nghĩa là không thể cắt sợi tơ tình chia lòng sủng ái, mà nó xui nên tội lỗi oan gia, dám xin phu nhân xét lại.

Vương phu nhân tỏ vẻ nghĩ ngợi một lát rồi nói tiếp: Ta đây chỉ muốn ăn thịt và lột da ngươi, để tiêu mối hận ngày trước. Nhưng giờ đây, sở dĩ ngươi được thoát chết là lúc ta đi ngươi chẳng đuổi theo, tỏ ý hé mở cửa lồng cho chim bay bổng. Nhưng còn tội sống thì ngươi không thể chối cãi được đâu. Vậy ta hỏi: Bọn sang Lâm Truy bắt ta là những tên nào? Cứ việc khai đúng sự thực, để chúng gánh bớt một phần tội lỗi cho ngươi.

Hoạn Thư cúi đầu thưa rằng: Những kẻ thi hành mưu kế dẫu là Hoạn Khuyển, Hoạn Ưng, nhưng người bầy ra mưu đó chính là tiện thiếp. Bọn chúng chẳng qua chỉ biết theo lệnh mà thôi. Nếu đem chúng ra gánh tội thay thì thiếp không nỡ.

Phu nhân rằng: Thế ra ngươi chính là phụ nữ dám nhận cả phần oan cừu vào mình đó chăng? Rồi nàng gọi quân đao phủ đem bọn Ưng Khuyển ra chém đầu để cảnh cáo những kẻ hào nô (nô bộc của phú hào) khác. Đao phủ dạ ran, lôi tuột hai tên ra chém đầu.

Phu nhân lại truyền tả hữu đem Kế thị ra nọc đánh 30 roi. Quân lính đương sắp ra tay thì Hoạn Thư ôm chầm lấy mẹ xin chịu đòn thay, và mụ quản gia (quản gia nhà mẹ Hoạn Thư, đã giúp đỡ Kiều khi nàng bị bắt về Vô Tích, và được Kiều tặng 100 lạng vàng, 2000 lạng bạc trong buổi báo ân xử oán - ghi chú của Ngày Nay) cũng vội quỳ xuống thưa rằng: Tội trạng của bà chủ tôi quả thực không thể tha thứ, vậy kẻ tớ già này xin tình nguyện thay chết cho chủ mẫu.

Phu nhân rằng: Thôi thì ta cũng nể lời mụ quản gia tha chết cho thị để mụ nhận lãnh đem đi.

Mụ quản gia tạ ơn rồi đỡ Kế thị ra ngoài dinh trại. Nhưng Kế thị năm ấy tuổi ngoài sáu mươi, lại là một vị nhất phẩm phu nhân, chưa từng gặp cảnh khổ nhục bao giờ mà nay bị bắt từ huyện Vô Tích giải đến, khổ sở biết bao, lại thấy ba quân giết người như rạ, trong khi tuổi nhiều sức yếu, mụ đã khiếp đảm chết ngay tức thì. Mụ quản gia đành ngồi một bên để trông nom thi thể.

Vương phu nhân thấy mụ quản gia đem Kế thị đi rồi, bèn truyền lệnh cho cung nữ đem Hoạn Thư ra, lột trần áo xiêm rồi treo lên đánh 100 trượng.

Cung nữ dạ ran, túm tóc Hoạn Thư lôi ra, lột hết áo quần, chỉ để chừa một cái khố, tóc bị buộc lên xà nhà. Hai tên cung nữ mỗi tên túm một tay để lôi giăng ra, hai tên khác thì cầm vọt ngựa đứng trước và sau, một tên đánh từ trên đánh xuống, một tên đánh từ dưới đánh lên, đánh như con đỉa bỏ trong thùng vôi, con lươn trong vạc nước nóng, luôn luôn dẫy dụa kêu trời. Toàn thân chẳng còn miếng da nào lành lặn. Sau khi cung nữ báo cáo đủ 100 roi, phu nhân truyền lệnh lôi ra cho Thúc Sinh nhận lãnh.

Cung nữ vâng lệnh, cởi tóc đem Hoạn Thư xuống, lôi ra phía ngoài gọi Thúc Sinh vào nhận. Thúc Sinh tạ ơn xong nhìn đến Hoạn Thư, thấy nàng chỉ còn thoi thóp thì chàng than rằng: Em ơi, chỉ vì cái khiếu thông minh của em đó mà phải rước lấy tai vạ, cầm dao cắt thịt của mình. Rồi một mặt thu nhận thi thể Kế thị, một mặt đỡ Hoạn Thư về chạy chữa đến nửa năm trời mới khỏi.

Kế đó Sử Chiêu (một tướng khác của Từ Hải) giải bọn Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh vào dinh.

Phu nhân hỏi: Tú Bà, mi có nhận được ta là ai không?

Tú Bà đáp: Kẻ hèn mọn này không nhận được ạ!

Phu nhân thét bảo: Mi hãy ngóc đầu lên nhìn xem ta là ai?

Quân sĩ dạ ran, túm tóc mụ kéo lật về phía sau. Bấy giờ mụ mới nhận rõ là Vương Thúy Kiều, thì luôn miệng kêu rằng: Tội của kẻ hèn mọn này thật đáng muôn lần bị chết chém. Chỉ xin phu nhân thương cho phần nào.

Phu nhân cười bảo: Lúc này mà mi còn mơ tưởng đến sự sống sao? Lời thề trước ngọn đèn trời ngày xưa hỏi đã tiêu tan thế nào được hử? Quân sĩ đâu, lôi con Tú Bà này ra, lấy dầu vông đun sôi để tẩm vào người, rồi dựng ngược cho đầu xuống đất, chân chổng lên trời, châm lửa đốt như ngọn đèn trời để làm tròn lời thề ngày trước. Mau lên!

Còn tên Mã Bất Tiến (tên thật của Mã Giám Sinh) thì kẹp chân tay vào mảnh gỗ cho căng thẳng ra, rồi rạch da và moi gân khiến cho tứ chi rời rạc, để ứng lời thề của nó. Ngoài ra, lại nấu một nồi dầu thông trộn lẫn với vỏ cây gai, đun thật sôi và lấy thùng nước lã lớn để bên, rồi đem Sở Khanh ra, lột hết áo xiêm, một người thì múc dầu thông đun sôi rưới vào mình hắn, một người thì lấy nước lạnh dội theo.

Quân sĩ được lệnh lôi ba phạm nhân ra ngoài. Tú Bà thì cuốn thành một cây sáp lớn. Phía dưới chỉ lộ cái đầu. Mã Giám Sinh thì bị căng xác. Sở Khanh bị quấn thành một thỏi sắt nguội.

Đoạn rồi phu nhân hô to: “Đốt sáp”, quân sĩ bèn châm lửa vào chân Tú Bà. Mụ mới bị châm một mồi lửa đã kêu đau ầm ĩ. Phu nhân mắng rằng: Mi cũng biết đau ư? Cớ sao ngày trước mi nỡ lòng hủy hoại da thịt người khác? Tú Bà chết ngất, không trả lời được nữa.

Kế đến Mã Giám Sinh, quân sĩ tìm chỗ chùm gân, lấy mũi dao nhọn khoét da, rồi dùng lưỡi câu móc vào đầu gân, dùng sức lôi mạnh một cái. Giám Sinh lập tức chết tươi. Quân sĩ rút thêm ba bốn cái gân nữa làm cho thi thể Giám Sinh rời ra từng mảnh. Phu nhân bèn sai quẳng ra ngoài bể cho cá nóc ăn để báo lại tội bạc tình.

Còn Sở Khanh bị tẩm dầu thông và keo vỏ gai, bên trong tuy vẫn còn sống nhưng bên ngoài không cựa quậy được. Quân sĩ chạy đến bóc lột miếng vỏ gai nơi đầu ra, thì ngoài da đã bị dầu thông ăn loẽn, chẳng cần dùng sức, chỉ tuốt một cái thì lột hết da. Độ nửa giờ sau, thân thể Sở Khanh chỉ còn trơ lại một cục máu đỏ lòm nhưng vẫn còn thoi thóp. Phu nhân lại sai đem nước vôi rưới vào, tức thì toàn thân Sở Khanh nổi lên những cái mụn như là bọt nước. Rồi sau ít phút trở thành mủ, rã thịt lòi xương mà chết thê thảm...

· Cuộc xử oán trong Đoan Trường Tân Thanh:

Cuộc xử oán dông dài và man rợ trong Kim Vân Kiều Truyện được cụ Nguyễn Du tóm tắt qua 42 câu thơ:

Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,

Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.

Thoạt trông nàng đã chào thưa:

“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?

“Đàn bà dễ có mấy tay,

“Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan?

“Dễ dàng là thói hồng nhan,

“Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.

Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,

Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca,

Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,

“Ghen tuông thì cũng người ta thường tình,

“Nghĩ cho khi gác viết kinh,

“Với khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo,

“Lòng riêng, riêng những kính yêu,

“Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai.

“Trót lòng gây việc chông gai,

“Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”

- “Khen cho thật đã nên rằng

“Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời,

“Tha ra thì cũng may đời,

“Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen.

“Đã lòng tri quá thì nên...”

Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.

Tạ lòng, lạy trước sân mây,

Cửa viên lại dắt một giây dẫn vào.

Nàng rằng: “Lồng lộng trời cao,

“Hại nhân, nhân hại, sự nào tại ta!”

Trước là Bạc Hãnh, Bạc Bà

Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh.

Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,

Các tên tội ấy đáng tình, còn sao?

Lệnh quân truyền xuống nội đao,

Thề sao thì lại cứ sao gia hình.

Máu rơi thịt nát tan tành,

Ai ai trông thấy, hồn kinh phách rời.

Cho hay muôn sự tại trời,

Phụ người, chẳng bỏ khi người phụ ta!

Mấy người bạc ác tinh ma,

Mình làm mình chịu kêu mà ai thương.

Ba quân đông mặt pháp trường,

Thanh thiên, bạch nhật rõ ràng cho coi.

So sánh các đoạn trên trong Kim Vân Kiều Truyện và Đoạn Trường Tân Thanh, ta nhận thấy những điểm nổi bật sau:

- Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Thúy Kiều tha tội hoàn toàn cho Hoạn Thư. Trong Kim Vân Kiều Truyện, Kiều tha tội chết nhưng ra lệnh đánh Hoạn Thư một cách dã man.

- Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Thúy Kiều không sai quân sĩ bắt mẹ Hoạn Thư đem về trị tội như trong Kim Vân Kiều Truyện.

- Cụ Nguyễn Du chỉ tả cảnh xử tội Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hãnh, Bạc Bà, và Ưng, Khuyển một cách vắn tắt chứ không chi tiết và tàn nhẫn như trong Kim Vân Kiều Truyện. Qua ngòi bút của cụ Nguyễn Du, chúng ta cảm thấy đồng tình với Kiều khi nàng tha bổng Hoạn Thư nên không phê phán nàng nặng nề khi nàng trả thù những nhân vật khác. Trái lại, khi đọc Kim Vân Kiều Truyện, có lẽ người đọc phải chau mày và có ý niệm chán ghét Kiều trước cách trừng trị dã man, tàn bạo, thiếu nhân tính nàng áp dụng đối với kẻ thù.

Ngoài phần xử oán vừa kể, trong toàn bộ câu chuyện, rất nhiều lần cụ Nguyễn Du đã loại bỏ những sự kiện có hại đến nhân phẩm của Thúy Kiều, và cả của các nhân vật quan yếu trong Kim Vân Kiều Truyện như Từ Hải và Kim Trọng. Điều này là một trong những yếu tố khiến chúng ta yêu thương những nhân vật này hơn.

***

Khi viết Đoạn Trường Tân Thanh, ngoài việc lược bỏ những đoạn hoặc rườm rà hoặc không cần thiết trong Kim Vân Kiều Truyện, cụ Nguyễn Du đã chứng tỏ biệt tài trong việc sử dụng ngôn ngữ qua những đoạn tả cảnh, tả tình, tả tình trong cảnh, tả cảnh trong tình; cũng như đã thành công trong việc miêu tả nhân vật và tô đậm cá tính nhân vật với chỉ vài câu thơ. Thêm nữa. cụ cũng đã trang bị cho các nhân vật một đời sống nội tâm phong phú với những suy tư, những khao khát, những rung động phù hợp với con người của họ theo từng hoàn cảnh của câu chuyện. Đây là những điều Thanh Tâm Tài Nhân đã thiếu xót khi sáng tác Kim Vân Kiều Truyện.

Chính tài nghệ của cụ Nguyễn Du đã cắt nghĩa được tại sao hai tác phẩm kể cùng một câu chuyện lại có hai số phận khác nhau. Một bên nhanh chóng chìm vào quên lãng ngay chính trên quê hương của nhân vật trong truyện, một đằng vừa xuât hiện đã được quần chúng mở rộng vòng tay đón nhận và trở thành tác phẩm bất hủ của dân tộc.

(Báo Ngày Nay số 512, phát hành ngày 1 tháng 10 năm 2003)

Tài Liệu Tham Khảo:

[1] Nguyến Trí Tích, “Viết Về Nguyễn Du và Truyện Kiều”, Nhà xuất bản Thanh Niên, Việt Nam, 2001.

[2] Trình Bá Đĩnh, “Nguyễn Du Về Tác Giả và Tác Phẩm”, Nhà xuất bản Giáo Dục, Việt Nam, 1999.

[3] Dương Quảng Hàm, “Nguồn Gốc Truyện Kiều Của Cụ Nguyễn Du”, Tạp chí Tri Tân số 4, Hà Nội, 1941.

[4] “Kim Vân Kiều Truyện”, bản dịch của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, nhà xuất bản Văn Hóa, phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa, Sài Gòn, 1971.

Nguồn : Blog Nguyển Thanh Thủy

Nàng là ai ? Hỡi Thúy Kiều

Là nhân vật chính trong Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, một người đẹp toàn tài, được xây dựng bằng một ngòi bút tài hoa, thấm đẫm tâm sự u uẩn của tác giả, nên nhiều người tin rằng nàng là người Việt. Nhưng theo Dương Quảng Hàm và nhiều nhà nghiên cứu thì nàng là người Tàu chính gốc một trăm phần trăm. Và người đã sản sinh ra nàng chính là Thanh Tâm Tài Nhân, cũng một người Tàu chính hiệu. Vậy thì cớ gì từ giới bác học đến bình dân, từ thành thị đến nông thôn, từ 200 năm trước đến tận hôm nay, nàng vẫn được nhắc đến như một mỹ nhân tiêu biểu của người Việt? Theo tôi, ấy là do thiên tài của Nguyễn Du, chính cụ đã đem nàng về từ Trung Hoa. Rồi, bằng thể thơ lục bát êm ái như tiếng võng ru, bằng những âm điệu ngọt ngào trong ca dao, bằng nỗi biệt ly thăm thẳm trong Chinh Phụ Ngâm, bằng nỗi ai oán nghẹn ngào trong Cung Oán Ngâm Khúc, cụ đã dựng nên một nàng Kiều vừa đáng thương mà cũng vừa đáng giận, một nàng Kiều thông minh rất mực nhưng cũng ngớ ngẩn khờ dại khôn cùng. Nghĩa là một nàng Kiều vừa cao xa nhưng cũng vừa gần gụi, vừa là một trang quốc sắc nghiêng nước nghiêng thành bên cạnh các nhà nho khoa cử, cũng lại vừa là một cô thôn nữ “sao anh múc ánh trăng vàng đổ đi”.

Nói theo kiểu chợ búa là “mông má” lại nàng. Nói theo kiểu tân thời là được giải phẫu thẩm mỹ. Nói theo các nhà phê bình, nàng không phải là con đẻ của Nguyễn Du mà là con nuôi, tức là phóng tác. Nhưng dù nói gì thì nàng cũng đã đến Việt Nam trên 200 năm. Và trong 200 năm đó, đúng như cuộc đời chìm nổi của nàng, biết bao nhiêu khen chê, bão táp, biết bao nhiêu lần chết đi sống lại. Linh Mục Thanh Lãng, tác giả Bản Lược Đồ Văn Học Việt Nam đã chia ra 7 thời kỳ nàng vừa được xưng tụng vừa bị đánh đập như sau:

1. Thế hệ những người cùng thời Nguyễn Du ( 1788-1820): Kiều chỉ mới là một hài nhi nên những người bạn của tác giả cũng chỉ ngó qua vậy thôi. Chủ yếu là nói nhiều đến nỗi mang nặng đẻ đau hay công phu khó nhọc của tác giả.

2. Thế hệ Nguyễn Công Trứ ( 1820-1862): Kiều bị chê là con bé ranh mãnh hỗn xược. Một người rất chịu chơi là Nguyễn Công Trứ mà cũng phải hạ những câu độc địa như:

Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải

Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu

Bây giờ Kiều còn hiếu vào đâu

Mà bướm chán ong chường cho đến thế

Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa

Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm

Bán mình trong bấy nhiêu năm

Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai!

3. Thế hệ Chu Mạnh Trinh (1862-1913): Kiều được nhìn

nhận như một cô gái nhỏ bé đáng thương, đồng hóa thân phận Kiều với tác giả, phê bình Kiều với thái độ nghệ sĩ, giàu cảm tính rất tài tử mà tiêu biểu là Chu Mạnh Trinh Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu…đã toan đúc sẵn nhà vàng chờ người quốc sắc, lại muốn mượn chùm phương thảo hú vía thuyền quyên

4. Thế hệ Nguyễn văn Vĩnh, Phạm Quỳnh (1913-1932): Kiều được tôn xưng là hoa hậu, là minh tinh. Phạm Quỳnh còn đi xa hơn nữa muốn Kiều trở thành giáo chủ, truyện Kiều là Thánh kinh, là Phúc âm của cả một dân tộc. Tâng bốc lên tận mây xanh, nên Phạm Quỳnh bị kết tội là học phiệt, bị Ngô Đức kế mỉa mai nước Việt Nam là Kim Vân Kiều Quốc!

5. Thế hệ Tự Lực Văn Đoàn (1932-1945): Lúc này xuất hiện nàng Loan trẻ trung sôi nổi trong Đoạn Tuyệt, nàng Mai dịu dàng dằm thắm trong Nửa Chừng Xuân, nên Kiều trở thành một bà già lẩm cẩm chẳng còn ai tơ tưởng tôn xưng nàng thành thần tượng nữa.

6. Thế hệ sau 45: Kiều bị đem ra đấu tố trước tòa án nhân dân, bị kết tội là phản động, đồi truỵ, bị đem thiêu đốt.

7. Thế hệ sau 54: Kiều đầu thai. Ở miền Bắc nàng bỗng trở thành một cô gái vô sản, là hiện thân của hàng triệu phụ nữ Việt Nam bị các thế lực phong kiến và bọn địa chủ đàn áp bóc lột. Ở Miền Nam, nàng là một cô gái hiện sinh dám dấn thân, dù suốt mười lăm năm là những tháng ngày buồn nôn. Và hai nàng Nam và Bắc hơn 20 năm gườm nguýt nhau, chửi bới nhau không thương tiếc!

Sau 75, cụ Thanh Lãng không còn sống để thấy rằng nàng Kiều miền Bắc đã hất cẳng nàng Kiều miền Nam ra khỏi các trường Đại học, các thư viện, khiến nàng phải lê lết dơ bẩn trong các chồng sách cũ bên vệ đường, hay theo những người đi kinh tế mới chùi đít cho những đứa bé bụng ỏng đầy gân xanh.

Nàng Kiều “thống nhất” bảnh chọe ngồi trên ngai vàng được Nguyên soái thi ca TH và nhị thập thiên bát tú xưng tụng ngất trời, còn hơn cả Phạm Quỳnh ngày trước. Giờ đây, những cuộc thi hoa hậu đủ vành đủ kiểu mở ra quanh năm suốt tháng, nàng lại được trọng vọng xưng tụng nhiều hơn nữa. Nàng phơi mở cái tòa thiên nhiên dầy dầy sẵn đúc cho thiên hạ lé mắt ra mà ngước nhìn bình phẩm.

Như thế đó, hơn 200 năm, Kiều đã thoát ra khỏi cái êm đềm trướng rũ màn che của sách vở để sống một cuộc đời thực cùng với những Tú Bà, Mã Giám Sinh nhan nhãn trên cõi đời này. Bị vùi dập, ngay cả đem đi thiêu sống mà nàng vẫn không chết, nên nàng trở nên dày dạn hơn, lọc lõi hơn. Ta có thể gặp nàng trên đường phố mang kính dâm chạy xe Spacy, trong quán bar mặc áo hai dây, quần phơi rốn và chỉ hơn Eva một chiếc lá nho bước đi nghệu nghễnh trên sàn diễn.

Trong văn học Việt Nam không có một nhân vật nữ nào lại có một đời sống dữ dội như thế. Bây giờ, không còn ai buồn biết tới cái tâm sự u uẩn, hay cái thuyết tài mệnh tương đố của cụ Tiên Điền nữa. Người ta chỉ biết có nàng đang lồng lộng hóa thân thành muôn ngàn Kiều @ ngập tràn trong đời sống. Cụ Nguyễn mà có sống lại cũng ngẩn ngơ khi ngước nhìn!

Trong tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân, Kiều chết hẳn ở sông Tiền Đường sau khi mưu phản để Hồ Tôn Hiến giết chết Từ Hải. Nhưng cụ Nguyễn, vì quá yêu nàng nên đã để cho nàng được sống mà gặp lại người tình Kim Trọng. Chỉ có vậy thôi, không ngờ nàng sống mãi đến tận bây giờ và còn sống “phẻ” đến nhiều trăm năm nữa.

Thôi, cũng xin chúc mừng nàng cho dù nàng là người Việt gốc Tàu.

Trần Bình Dân

HOÀNG CÁT VÀ TRUYỆN NGẮN CÂY TÁO ÔNG LÀNH

NTT: Hoàng Cát nổi tiếng bởi truyện ngắn "Cây táo ông Lành" đăng trên báo Văn Nghệ năm 1974. Nổi tiếng vì "bị đánh". Một cái truyện hiền lành viết về tình cảm tốt đẹp ông Lành dành cho trẻ con, đã bị giới "phê bình quan phương" suy diễn nâng thành quan điểm chống lại CNXH. Thời đó người ta còn bảo nhân vật ông Lành là ám chỉ Tố Hữu, vì Tố Hữu được gọi là anh Lành và đầu nhà có trồng cây táo "Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt", "Sân trường táo rụng nhớ đàn em"... Nhưng sau này Hoàng Cát kể chuyện gặp Tố Hữu thì Tố Hữu nói tớ có biết gì đâu. Vì vậy nên khi làm cái Blog cho Hoàng Cát, ghi chú về tác giả dưới ảnh Avatare, tôi liền ghi dòng này: Hoàng Cát, gần cây táo ông Lành

Mới biết sự suy diễn của giới "phê bình quan phương" vô cùng nguy hiểm, làm khổ Hoàng Cát bao năm "mang án không án", không được đăng cả tên mình dưới những bài viêt. Để nhớ lại thời kỳ kinh hãi đó, mời các bạn đọc lại truyện ngắn này cùng với lời "qui tội" của Tạp chí CỘNG SẢN (Tạp chí Học Tập thời đó).

TCCS: "... Một truyện ngắn về thiếu nhi đăng trên tuần báo Văn nghệ trong thời gian qua thuộc loại nấm độc nguy hiểm. Với lối viết kiểu "biểu tượng hai mặt", truyện này gieo rắc hoài nghi trong quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng ta, gieo rắc tư tưởng chống lại đường lối cách mạng, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền chuyên chính vô sản của chúng ta. Miêu tả cuộc sống heo hút, tâm trạng u buồn của một ông già, người vợ chết vì bom, người con trai độc nhất "vô bộ đội đợt đầu tiên kể từ sau khi có lệnh hoà bình", truyện này không những bộc lộ quan điểm sai lầm của chủ nghĩa nhân đạo tư sản trong vấn đề chiến tranh, mà còn có tác dụng như một lời kêu gọi phản đối chiến trânh cách mạng, có hại cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước của nhân dân ta. Trong điều kiện chuyên chính vô sản, cuộc đấu tranh giữa hai con đường ở miền Bắc tiếp tục diễn ra gay go , phức tạp, tác giả truyện ngắn này đưa ra hình ảnh cái đầu lâu khủng khiếp và nói về việc " từ bỏ con đường này đi theo con đường khác" là có dụng ý gì? Phải chăng đây là sự phản ứng giai cấp trước một số biện pháp như kiểm tra hành chính , thu lại ruộng đất bị lấn chiếm , chống bọn ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và bọn làm ăn trái phép, bọn đầu cơ, móc ngoặc, vv...mà nhà nước dân chủ nhân dân đã áp dụng để bảo đảm thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trong việc giải quyết vấn đề "ai thắng ai" ở miền Bắc? Cùng với lối viết bóng gió, xuyên tạc "nhà mới mà đã dột vì chuột bọ", tác giả đe doạ "bỏ" con đường mà tác giả cho là "con đường tắt" để đi con đường khác! Đó là một sự thách thức chế độ ta. Chuyện đã không chân thật, chủ đề lại lấp lửng, chi tiết lại đáng ngờ, gieo rắc những quan điểm, tư tưởng sai trái, đây rõ ràng là một truyện xấu và có hại. Vì tính chất độc hại của nó, truyện ngắn này đã bị đông đảo bạn đọc kịch liệt phản đối..."

CÂY TÁO ÔNG LÀNH

Tên thật ông là gì, nhiều người không biết. Đã từ lâu, người ta vẫn quen gọi ông là ông Lành. Vì tính ông hiền lành và rất yêu lũ trẻ trong làng. Lâu dần, nó thành ra tên của ông.
Vườn nhà ông khá rộng, có nhiều cây ăn quả như chuối, mãng cầu, vú sữa, táo... Ông Lành thú nhất là cây táo lai. Nó đứng ở góc vườn, trùm cái tán khum khum lên một vạt đất chừng dăm tấm chiếu. Cạnh cây táo quý ấy, ông đã cất lên một căn nhà ba gian, hai chái; chung quanh tường xây gạch, mái còn tạm lợp tranh. Ấy là căn nhà ông làm chuẩn bị cho cậu con trai duy nhất của ông lấy vợ, ở riêng. Nhưng nhà vừa làm xong thì thằng Sửu lại xung phong vô bộ đội đợt đầu tiên, kể từ sau khi có lệnh hoà bình của Chánh phủ cách mạng lâm thời.Thế là ngôi nhà đành tạm để không. Và nó được mang mãi cái tên "Nhà mới". Mặc dù cho đến nay, mái tranh của nó đã có đôi chỗ dột vì chuột bọ, vì thiếu hơi người ở.

Cây táo quý đứng ngay góc sân ngôi nhà mới ấy. Cây táo càng đẹp thêm, và ngôi nhà cũng đẹp thêm.Mé dậu vườn là con đường ống chạy xuyên qua làng. Sáng sáng, lũ trẻ học trò lớp Một đi tắt qua đấy để đến trường. Bao giờ chúng cũng đi thật sớm, tíu tít như một đàn chim, vồ lượm những quả táo rụng.

Vốn là một ông già yêu trẻ, ông Lành lấy thế làm niềm vui. Nhiều khi đứng trong cửa sổ nhìn ra, ông thấy lũ trẻ lấy gạch ngói, đất đá hoặc que khăng ném cho táo rụng xuống để lượm được nhiều. Ông cũng chẳng la mắng chúng nó làm chi. Ông hiểu, lũ trẻ thích ăn táo lắm. Chỉ những đứa trẻ nào nghịch quá, ném vung đất đá vào sân hay làm rơi hỏng mái tranh ngôi nhà mới của ông, thì ông mới nhẹ nhàng bảo chúng đừng ném nữa. Lũ trẻ cũng biết nể ông, ông chỉ cần nhắc một lần là chúng ngoan ngoãn rủ nhau kéo đi. Chúng vừa đi, vừa ăn táo, và "nhồm nhoàm" trêu chọc lẫn nhau. Rồi chúng đuổi nhau chạy. Rồi chúng cười. Rồi chúng hát nghêu ngao...

Những lúc thảnh thơi, ông Lành nhìn lũ trẻ hò nhau nhặt táo rụng mà càng thêm ao ước một ngày gần đây thằng Sửu về cưới vợ; rồi ông sẽ có những đứa cháu cũng líu lo như thế. Ước mơ ấy luôn cho ông niềm vui ngầm trong bụng.

Bà vợ ông đã chết vì bom toạ độ Mỹ từ mùa gặt năm 1967, đúng vào kỳ cây táo sai quả nhất. Thằng Sửu của ông cũng đã đi thoát ly, vào quân chủ lực. Chỉ còn lại mình ông. Nỗi thèm khát có đứa cháu bên cạnh cho ấm áp tuổi già, càng lúc càng âm ỉ trong lòng ông Lành. Những đêm sương nặng hạt, nằm không ngủ được, lắng nghe tiếng táo rụng lộp bộp ngoài vườn lẫn với tiếng sương rơi, ông Lành chỉ mong chóng sáng để được thấy lũ học trò đi qua nhặt táo...

Nhưng một buổi sáng ông đang ngồi hí húi vót lạt mây để buộc cái nạng, chống cho cây táo đỡ ngả xuống vườn vì nặng quá, thì bỗng "bịch rộp!" - một hòn đất rơi trúng đầu ông, tung toé cả lên vai, lên gáy! May mà hòn đất bở, không to lắm, chứ không thì có lẽ ông đã té xỉu xuống rồi. Thế mà cũng choáng váng mất một lúc. Vừa ngẩng lên, ông Lành thấy thằng Thìn đang trân trân nhìn ông, vẻ hối hận lắm.

Nó lắp bắp:

-Cháu...cháu lỡ!... Ông tha...

Đang cơn bực mình, ông Lành ném cây rựa xuống sân đánh "phựt" , đứng phắt lên:

-Ông, ông cái con khỉ!...

Hoảng quá, thằng Thìn co giò bỏ chạy.

Cũng vừa lúc ấy, nó gặp lũ bạn ngoài ngã ba cây bông điệp. Nó cản các bạn lại, làm ra vẻ bí mật:

-Nè, chúng bay à! Tao đi qua cây táo ông Lành vừa nãy, mà sợ quá, phải chạy lui đó nghe!
-Sao?
-Gì thế? Cái gì thế?

Lũ bạn nhao nhao lên hỏi, đầy vẻ băn khoăn và sợ hãi.Thằng Thìn, cậu bé lên tám, mắt tròn ấy, bấy giờ mới một tay kéo quần, một tay vừa ôm vở, vừa vung lên làm hiệu và nói như thật:

-Tao đi qua cây táo ông Lành, tưởng như mọi khi, tao vô lượm trái rụng. Bất chợt có tiếng "ư hừm!"rõ to! Mà giọng nó ồ ồ kỳ lắm! Tao tưởng là ông Lành đùa. Nào ngờ, nhìn khắp mà chẳng có ai hết. Tao lại nghe "ư hừm" thiệt to và kéo dài lượt nữa; chừng như có người nào ngồi trên cây táo. Tao mới nhìn lên, thì eo ôi! Một cái sọ dừa đen ngòm trên ấy nó trêu tao! Tao sợ hết hồn, co cẳng vùng chạy một mạch tới đây. Hú vía!

Thìn kể say sưa và hồi hộp thật. Các bạn nó ngơ ngác nhìn nhau, giọng se sẽ thì thào; có đứa tái mét cả mặt:

-Vậy làm sao mà tới lớp bây giờ?

Thìn liền láu lỉnh:

-Đây có phải là đường chính của chúng mình tới Trường đâu. Đường chính là đường to, vòng quanh làng chứ. Đường qua vườn ông Lành là đường tắt cho nhanh!

Lâu nay lũ trẻ quen đi đường tắt này, vừa nhanh lại vừa được lượm táo. Bây giờ, nghe Thìn nói vậy, cả lũ réo lên:

-Thôi! Bỏ đường cây táo ông Lành!
-Bỏ thôi!
-Bỏ! Bỏ!

Vậy là lũ trẻ quay ùa ra đường cái, vòng quanh làng.Riêng có thằng Tỵ và thằng Ngọ chưa tin hẳn lời thằng Thìn, bèn rủ nhau bò tới rình xem. Chỉ một lát sau, hai đứa vội vàng co giò chạy trở lại; càng làm cho lũ trẻ tin chuyện cái sọ dừa đen trên cây táo là có thật.

Từ đó, đường qua vườn ông Lành vắng hẳn. Những quả táo chín, rơi vàng cả một góc sân ngôi nhà mới, rơi cả ra đường...Ông Lành nhìn táo rụng vàng ối, mà chẳng có trẻ nhặt, lòng dạ không đành. Đêm nằm nghe tiếng táo rụng với tiếng sương rơi lộp bộp ngoài vườn, ông thắc thỏm đoán ngày mai thế nào lũ trẻ cũng đến lượm, hò reo, hí hửng với những túi táo đầy. Nhưng đã hết năm ngày, năm đêm rồi, mà vẫn không nghe tiếng chân lũ trẻ đi qua nhà ông để đến trường nữa, chứ đừng nói là chúng vào lượm táo.

Ông Lành ân hận. Hay là thằng nhóc ấy đã nói với lũ bạn nó thế nào, để tất cả lũ chúng giận ông? Mà ông đã làm gì nó kia chứ! Một cục đất rơi thẳng vào đầu, chứ có phải chuyện chơi đâu. Chưa biết căn nguyên vì sao lũ học trò lớp Một trong làng lại không đi qua nhặt táo rụng nữa, nhưng ông Lành cũng mang cái rổ ra lượm tất cả táo trên sân, trên vườn, rửa sạch sẽ. Thế nào rồi cũng có lúc chúng nhớ mà đi qua chứ.

Ông vừa làm xong việc đó được một lúc , thì chợt thấy thằng Mùi hớt hơ hớt hải cắp sách chạy qua. Nhưng nó không đoái hoài đến cây táo. Ông Lành liền gọi giật nó lại:

-Nè con!

Thằng Mùi ngoái đầu, "dạ" một tiếng rõ to, rồi định quay đi chạy thẳng. Nhưng ông Lành đã kịp bưng rổ táo chín múp chạy tới, giữ nó lại. Thằng Mùi tròn mắt, không dám lấy:

-Táo có ma đầu-lâu-đen, cháu không ăn đâu ông ạ!
-Ai bảo mày thế?
-Thằng Thìn! Hôm kia nó đi sớm, vào lượm táo một mình, bị ma đầu-lâu-đen doạ "ưm hừm" đấy!
-Ở đâu? - Ông Lành càng ngạc nhiên.
-Nó bảo có đầu-lâu-đen trên cây táo của ông! - Thằng Mùi vừa thở vừa nói , rồi quay mặt đi chỗ khác, đưa tay chỉ lên cây táo.

Ông Lành mới vỡ lẽ! Ông chửi yêu thằng Mùi, chửi yêu cả lũ bạn nó:

-Cha mẹ chúng bay nghe! chỉ bày trò dại mà doạ nhau thôi. Tổ kiến đen đấy cháu ạ! Ông nuôi tổ kiến trên ấy cho nó ăn sâu đi, để táo khỏi bị sâu ăn chứ. Rồi ông Lành ngồi vậy, ôm hẳn thằng Mùi đứng vào giữa hai đùi ông:

-Cháu đến lớp nói với các bạn là không có ma nào hết nghe! Đây nè, để ông đi chọc tổ kiến cho cháu xem.

Rồi ông Lành cười thoả thuê, dắt tay thằng Mùi đến bên cây táo, lấy sào nứa đâm vào tổ kiến. Lập tức đàn kiến bò ra, bu đen cả đầu sào. Thằng Mùi vỗ tay reo lên, cười khanh khách. Rồi nó quay vội sang, nói với ông Lành:

-Bữa nay vì cháu ngủ quên, sợ đến trễ, cô giáo la, nên mới liều chạy tắt qua đường này đó ông ạ! Bây giờ cháu phải đến lớp kẻo trễ, nghe ông!

- Ờ! Mà cháu phải mang chỗ táo ông nhặt đây cho cả lớp ăn với chứ.

Trước đây, cô giáo Hà đến xin ông Lành cho mượn căn nhà mới để làm trường cho học sinh lớp Một. Suy đi tính lại , rồi ông không cho. Lắm lúc, ông cũng thấy có cái gì đó không đành. Hoá ra, như thế mình không nghĩ đến tình làng nước nữa sao? Nhưng mà, ái chà chà! Cái lũ trẻ ấy cũng nghịch quá lắm! Nếu để cho chúng nó học ở đấy, rồi đến tường nhà cũng lở lói hoặc bị bôi vẽ bẩn thỉu những gà mẹ, gà con, lợn nái , mèo hoa lên thôi, Và tất nhiên là cây táo quý hoá của ông cũng sẽ trụi thụi lụi cả quả lẫn cành mất.

Nhưng chỉ mấy ngày vắng bặt tiếng trẻ hò reo lượm táo, vắng bặt tiếng rậm rịch bước chân của lũ chúng qua trước nhà ông để đến lớp học , ông Lành mới thấy hết thế nào là hạnh phúc của một người ông. Ông nhớ lũ trẻ hơn hớn kia quá. Và ông càng đâm ra nghĩ ngợi , nhớ lây sang thắng Sửu nhà ông , với niềm hy vọng một ngày gần đây ông sẽ có cháu nội . Rồi chúng cũng đi học lớp Một, cũng nhặt táo rụng trên vườn kia...

Thế là ông Lành quyết định đến lớp gặp cô giáo Hà. Và tất nhiên, ông sẽ được gặp tất cả lũ trẻ nữa. Thứ nhất, ông sẽ nói để cô giáo biết chuyện thằng Thìn bịa ra trên cây táo quý của ông có cái đầu lâu đen, làm cho lũ trẻ khiếp vía, sợ lây cả ông. Thứ hai, ông sẽ bảo cô giáo chuyển cho lũ nhỏ về ngôi nhà mới của ông mà học. Chả là ông đã nghe phong thanh, đâu cái chỗ lớp học hiện giờ chật chội quá, cô giáo Hà định dời lớp sang một làng khác.

Ông Lành đến lớp học của lũ trẻ lớp Một.Vừa thấy ông từ xa, lũ trẻ đã cầm mỗi đứa một vài quả táo trên tay, chạy ùa ra hò reo đón ông. Riêng có thằng Thìn vội ngồi sụp xuống dưới chân bàn , mồm đang ngậm một quả táo, mỉm cười tinh nghịch. Nó đỏ dừ hai tai...

Mùa táo chín 1973

Nguồn : Blog của Nguyễn Trọng Tạo

ĐÊM QUA LÀ CÁI ĐÊM GÌ? MỘT CÂU HỎI TRONG TÁC PHẪM BÍCH CÂU KỲ NGỘ

Bích Câu Kỳ Ngộ là một áng thơ tuyệt tác trong kho tàng văn học Việt Nam

Bích Câu Kỳ Ngộ gồm có ...... câu thuộc thể thơ lục bát, là một tác phẩm lớn có giá trị văn chương , nghệ thuật thuộc vào hàng kiệt tác qúi hiếm , tác giả là ai ? có phải làdo nhà sư họ Bùi trù trì chùa An Quốc chép lại ? chuyện kể về chàng Tú Uyên là một thư sinh ở vào đời Lê Thánh Tôn. Cha mẹ đều mất sớm. Tú Uyên dựng nhà học giữa hồ Bích Câu. Một hôm trong nhân đi hội chùa Ngọc Hồ, Tú Uyên lượm được một bài thơ bảo có tiên nữ xuống xem hội. Tú Uyên thấy có một cô gái đẹp từ chùa bước ra. Chàng bèn theo tán chuyện ướm tình, đến Quảng Văn Đình trước cửa Nam thành Thăng Long, thì nàng biến mất.

Uyên cố tìm hỏi mà không ra tông tích. Càng trở nên buồn rầu ốm nặng. May có bạn, họ Hà, khuyên can, cho nên chàng gượng đi cầu mộng ở đền Bạch Mã tại phố Hàng Bạc. Thần báo ngày mai hãy đợi ở bên cầu Đông trên sông Tô Lịch, sẽ gặp

Chàng theo đúng như lời Tú Uyên gặp một ông già tay cầm một bức họa từ xa bước lại. Người trong tranh là nàng mỹ nữ mình gặp hôm kia. Mua tranh về Tú Uyên hàng ngày ngắm nghía chuyện trò. Đến bữa, dọn bát đũa mời ăn như người thật. Bổng một hôm, nguời trong tranh dường như mĩm cười.

Một hôm Uyên từ trường về, thấy có cơm nước sẵn sàng, mà toàn những cao lương mỹ vị. Sau đó hôm nào cũng vậy, chàng nghi rằng đã có người tiên đến giúp mình, cho nên tìm cách gặp mặt. Một ngày kia, chàng giả đò đi học, nửa đường quay trở về rình ngoài phên, quả nhiên chàng thấy có mỹ nhân trong tranh bước ra. Chàng liền đẩy cửa chạy vào. Mỹ nữ đành không tránh nữa. Nàng tự nhận là tiên nữ Hà Giáng. Vốn có duyên cùng chàng.

Sau đêm động phòng hoa chúc . Vợ chồng bên xướng họa sáu mươi vần để ghi riêng đầu đuôi câu chuyện tình.

Tú Uyên dần dần sinh ra nghiện rượu tình vợ chồng nghe như đã nhạt mùi ân ái . Đã không nghe lời vợ chồng khuyên can, thường lại còn đánh đập nàng. Giáng Kiều bỏ nhà trở về cỏi tiên. Có lúc tỉnh rượu, chàng biết lổi tại mình, cố đi tìm vợ mà không thấy nữa. Luyến tiếc, sinh ra sầu não đau ốm.

Tú Uyên toan tự vẫn thì đúng vào lúc đó Giáng Kiều lại hiện ra. Chàng bèn từ tạ, xin nối lại duyên xưa.

Ngoài những bài phê bình văn học của nhiều học giả từ xưa cho đến bây giờ thường chỉ chú tâm quan sát cách kết cấu bố cục của tác phẫm , tâm lý nhân vật , tư tưởng Phật giáo và triết lý lão giáo thoát tục.... , văn chương với những câu thơ bóng bẩy chải chuốc cực kỳ điêu luyện , với những cảm xúc sâu sắc tinh tế của tác giả...

Ỡ đây chúng tôi lại nhìn tác phẫm và các nhân vật như Giáng Kiều là một phụ nữ đãm đang nội trợ , gợi cảm và Tú Uyên là môt nghệ sĩ tài hoa nhưng lại là một người đàn ông đam mê sắc dục và nghiện rượu mà Tú Uyên đã từng tuyên bố :

Trăm năm thân ấy ra gì

Nay còn son trẻ ta thì cứ say

Giải sầu ba chén làm khuây

Mua vui một bát.....

Dưới khía cạnh liên quan đến đời sống thực của một con ngưởi bao gồm tình yêu , nỗi nhớ nhung , mong đợi và đời sống về tình dục , chúng ta thử xem trong tác phẫm Bích Câu Kỳ Ngộ tác giả đã nêu vấn đề đó ra sao ? nó có khác gì với Nguyễn Du qua lời Tú bà dạy nàng Kiều

Này con thuộc lấy nằm lòng

Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề

Hay như Nguyễn Gia Thiều :

    Khi ấp mận ôm đào gác nguyệt

Lúc cười sương cợt tuyết đền phong

Cái cách mô tả Giáng Kiều trong Bích Câu Kỳ Ngộ hoàn toàn khác hẵn với cung cách của Nguyễn Gia Thiều và Nguyễn Du khi giới thiệu nàng cung nữ hay nàng Kiều

Bóng hoa cốt giễu bóng người

Dầy dầy da tuyết trắng ngời, thích sao !

Ba canh ngược thấu nguồn đào

Gió Chằm Nhất Dạ thổi tiêu lót phàm

Rỏ ràng tác giả rất cố ý khi dùng chữ thích sao trong câu thơ để xác định cái cảm nhận của mình trước cái sắc đẹp gợi tình của Giang Kiều và cái điên tích Chằm Nhật dạ đã gợi lên trong trí tưởng người đọc một bức tranh mà trong Lĩnh Nam Chích Quái mô tả cảnh công chúa Tiên Dung và Chữ Đồng Tữ hai người trần truồng không một mảnh vải che thân , cảnh ấy còn trử tình và khêu gợi hơn cả ông Adam và bà Eve trong vườn địa đàn

Không như Cung Oán Ngâm Khúc nàng cung nữ hồi tưởng lại giây phút thất thân với hoàng đế :

Cái đêm hôm ấy đêm gì

Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng

mà ở đây Giáng Kiều và Tú Uyên cùng đem câu chuyện vùa mới xảy ra, còn nóng hổi , còn vươn mùi vị ái ân nồng nàn đêm qua để nói với nhau , trong nghệ thuật sống và trong tình dục học thì đó là là một cách trao đổi rất cần thiết dể giúp nhau đạt đến hạnh phúc trong cuộc sống chăn gối , bởi vì có những cặp sống với nhau đến mãn đời vẫn không biết người hôn phối có đạt được cái rung cảm của thân xác hay không , qua cái nhìn và mô tả hành động này mới thấy hết được sự sâu sắc , và tư tưởng cấp tiến trong quan niệm tình dục vốn rất tối kỵ ở thời điễm đó

Đêm qua là cái đêm gì ?

Chúa xuân hé cửa màn the dộng phòng

Cầu ô đã bắt ngang sông

Mảnh gương trắng bạ xế trông mày ngài

Trong đời sống lứa đôi thì bức tranh của Giáng Kiều và Tú Uyên quả thật là đáng được nhiều người noi theo không chỉ là tâm đầu ý hợp mà cả cái say mê hưỡng lạc thú vui nhục dục họ cũng đồng điệu

Đủa ngà chén ngọc lạ lùng ai hay.

Rượu kèo chén cạn lại đầy,

Giọng thanh khúc hát khi chầy khi mau

Mặt cười hoa nở kề nhau

Vẻ trong huyền ảo ai hầu đoán ra?

Nhạc du dương khách la đà

Nhịp giày quay múa, nhìn mà say mê?

Tiệc riêng trên nệm cùng ngồi kề nhau

Vui đùa trong khói trầm bay,

Nồng nàn luyến ngọc, thày lay ghẹo vàng.

Lòng càng đắm, hứng càng cao,

Nồng nàn sắc dục, ngọt ngào tình yêu

Một cảm xúc về tình dục trong cuộc giao hoan mà giường chiếu nệm màn khăn gối được sửa soạn thật tỉ mĩ không thua gì một bài giáo khoa trong nghệ thuật chăn gối dưới ngọn bút của tác giả dã trở nên thần thánh hóa và thi vị

Dời đèn, rũ bức màn thêu

Lò nghê thêm xạ, thêm khêu gợi tình

Cầm đôi tay ngọc trắng xinh

Vui vào trướng gấm thêu hình năm hoa

Thân mền yểu điệu thật là

Gió tình đẩy động, thổi đà xiêu xiêu

Thẹn thùng cúi mặt yêu kiều

Aùnh hồng ửng má, áo điều lìa tay

Ngọc ngà trong trắng nào tày

Nhà vàng, giường báu, thân này xứng nên

Mấy đời sánh mặt người tiên

Vóc này đâu thấy ở miền trần ai.

Và trận mây mưa đạt đến đĩnh cao của sự hoan lạc khi trầm lúc bổng khi nhặc lúc khoan theo nhịp dập của con tim ân ái , ở đây tác giả chỉ cần dùng một chữ mồ hôi không thôi cũng đủ cho người đọc liên tưởng những gì đã xãy ra trong cơn cực khoái của con người

Nệm canh sóng hứng vỗ xê

Gió xuân thổi dập màn the phập phồng

Tóc mây trâm lỏng buông tung

Nét son, lớp phấn ướt cùng mồ hôi

Nói sao được chuyện trong chăn

Thú vui trên gối, tâm thần biết thôi

Và cuộc mây mưa hứa hẹn mãi mãi suốt đời

Suốt đời sẽ náo phòng khuê

Cùng nhau sẽ lấy cầm thi vui vầy.

Và câu hỏi " Đêm qua là cái đêm gì ? " đã dược trả lời như sau :

Trong giường còn mảng mưa mây,

Ngoài song thơ lặn, trời tây còn hồng

Vẫn còn trằn trọc phòng trong

Miệt mài vui cuộc tình chung chưa tàn

Mỏng manh mảnh áo dính thân

Đầu này cuối mắt nhìn gần mà no!

Thang lan mát mẻ thơm tho

Phấn giồi, chấm điểm, son tô, hương lồng

Chuyện đêm qua những thẹn thùng

Càng tăng vụ mới, càng nồng đẹp xưa

Nếu đem so sánh với các tình tiết kiểu như thế này với một vài tác phẫm khác như Nhị Độ Mai hay Phạm Công Cúc Hoa thì Bích Câu Kỳ Ngộ vượt xa rất nhiều trong lãnh vực cấm kị này

Riêng về khía cạnh tình dục được mô tả , nhắc nhở đến trong tác phẫm Bích Câu Kỳ Ngộ thì đây có thể xem như một bài học căn bản để giử gìn hạnh phúc trong đời sống vợ chồng

BS HỒ ĐẮC DUY - www.ykhoa.net

Phát hiện tranh của thi sĩ Bùi Giáng

Trong một lần dọn dẹp nhà cửa mới đây, họa sĩ Phạm Cung đã tìm lại được hơn 20 bức tranh của thi sĩ Bùi Giáng. Lâu nay, những người yêu mến Bùi Giáng đều biết rằng “trung niên thi sĩ” có vẽ tranh nhưng là vẽ trước năm 1975. Riêng hơn 20 bức tranh họa sĩ Phạm Cung đang lưu giữ đều được Bùi Giáng vẽ từ năm 1982 đến khoảng 1994 trước lúc ông qua đời (1998).

TU HOA

Chỉ vẽ khi ngà ngà…

Họa sĩ Phạm Cung kể rằng khi sinh thời, thi sĩ Bùi Giáng thường lui tới ăn, ở tại nhà ông. Trong những lúc Bùi Giáng ngồi chơi uống rượu xem Phạm Cung vẽ tranh, ông đã ngẫu hứng mượn cọ, xin màu, giấy và… vẽ. Bùi Giáng chỉ vẽ khi đã có tí men ngà ngà cùng với những câu chuyện văn chương nghệ thuật qua nói chuyện với Phạm Cung bốc lên trong đầu. Thế nhưng, những bức tranh của Bùi Giáng lại vẽ những đề tài rất… Bùi Giáng. Chẳng hạn như cách đặt tên những bức tranh như sau: Bò khát bia, Chó hút thuốc, Người say, Người cưỡi ngựa hộc máu, Chân dung người điên, Chân dung, Lão Từ Hải thất vọng… cùng nhiều bức tranh không đặt tên khác.

Những bức tranh Bùi Giáng vẽ trong giai đoạn này (1982 – 1994) tại nhà họa sĩ Phạm Cung chủ yếu bằng màu nước hoặc bút bi trên giấy khổ A4. Màu nước được họa sĩ Phạm Cung mua riêng cho Bùi Giáng vì họa sĩ sợ thi sĩ “nghịch hao” sơn dầu của mình trong thời buổi khó kiếm. Dù được Phạm Cung mua cho nhiều lọ màu nước khác nhau, nhưng Bùi Giáng chỉ dùng một hoặc tối đa là ba màu cho mỗi bức tranh. Tuy vẽ bằng màu nước, vậy nhưng “trung niên thi sĩ” lại dùng cọ chuyên để vẽ sơn dầu.

TU HAI THAT VONG

Họa sĩ Phạm Cung cho biết: “Anh Bùi Giáng vẽ rất mạnh tay nhiều khi rách toạc tờ giấy. Mà vẽ mạnh ta thì không thể dùng cọ vẽ màu nước do đầu cọ mềm nên không làm chủ được nét dày mỏng của bức tranh”. Còn giấy để Bùi Giáng vẽ đa phần là giấy… “phế liệu” do Phạm Cung lúc ấy quá nghèo không mua được giấy trắng, tốt. Khi đó, vợ họa sĩ Phạm Cung buôn bán trà nên ông đã lấy những tờ giấy gói trà màu vàng, ủi phẳng, xếp ngay ngắn dành cho Bùi Giáng. Nguyên vật liệu chỉ đơn giản có vậy, nhưng Bùi Giáng vẽ rất say mê, đến độ hết màu nước ông chuyển sang vẽ bằng bút bi.

Tại sao những bức tranh của Bùi Giáng còn được một họa sĩ lão làng như Phạm Cung gìn giữ đến hôm nay? Họa sĩ Phạm Cung thành thật: “Thực ra họa sĩ chuyên nghiệp như tôi không xem đường nét hay sắc màu trong tranh Bùi Giáng là cái gì cao siêu đâu. Nhưng tôi quý tranh của anh Bùi Giáng vì tư tưởng, cách đặt tên và đặc biệt là những câu thơ anh viết lên bức tranh”. Mỗi bức tranh Bùi Giáng vẽ xong, họa sĩ Phạm Cung xếp cất vào một góc riêng, biểu hiện sự trân trọng những gì Bùi Giáng làm ra, nhưng chính họa sĩ lại lãng quên ngay sau đó.

Mỗi bức tranh là một câu chuyện

BO KHAT BIA

Trong số hơn 20 bức tranh của Bùi Giáng, có 2 bức khá đặc biệt: Chân dung do Bùi Giáng tự họa và Lão Từ Hải thất vọng. Bức Chân dung được Bùi Giáng tự họa vào năm 1994. Họa sĩ Phạm Cung cho biết ông có vẽ, làm tượng chân dung Bùi Giáng. Khi Bùi Giáng xem chân dung của mình qua nét cọ Phạm Cung liền ngẫu hứng tự họa chân dung mình. Họa sĩ Phạm Cung đánh giá bức chân dung tự họa này của Bùi Giáng rất xuất thần vì rất… Bùi Giáng.

Còn bức tranh Lão Từ Hải thất vọng (vẽ khoảng năm 1982) có hai câu thơ: “Đêm nay nhớ lại Kiều nhi/ Mới hay không phải tử thi của Kiều” kèm cụm từ: “tặng đại ca” cũng rất… Bùi Giáng. Lão Từ Hải thất vọng vẽ chân dung một người đàn ông râu tóc lởm chởm, sau lưng có đầu một con ngựa. Họa sĩ Phạm Cung nhận xét: Bùi Giáng gọi là vẽ Từ Hải nhưng thực chất cũng là vẽ chính mình. Trong năm 1994, Bùi Giáng cũng vẽ một bức Chân dung người điên với hai con mắt như thơ ông: “Còn hai con mắt khóc người một con”.

Trong số hơn 20 bức tranh của Bùi Giáng đang được họa sĩ Phạm Cung lưu giữ, mỗi bức có một câu chuyện đính kèm thể hiện cuộc sống thời điểm đó của thi sĩ. Như bức Chó thuốc, theo lời họa sĩ Phạm Cung: “Khi đó tui mời anh Bùi Giáng một điếu xì gà do người quen của tui cho, anh đưa lên mũi ngửi tới ngửi lui rồi vẽ thành bức Chó hút thuốc rồi giải thích: Chó còn thèm hút thuốc huống gì là tao. Chó hút thuốc hình như vẽ năm 1982”. Tương tự, bức tranh Bò khát bia cũng thế, điều đó thể hiện sự túng thiếu một thời đến độ thi sĩ phải mượn loài vật để nói hộ mình những nhu cầu cơ bản của một con người.

Theo TRẦN HOÀNG NHÂN

(Thể Thao & Văn Hóa)

Đỏan khúc "Giọt lệ và nụ cưới" - Kahlil Gibran

“Tôi hẳn không chịu đổi những đau khổ của lòng tôi lấy những lạc thú của đám đông. Và tôi sẽ không nhờ ai biến những giọt lệ mà những nỗi buồn đã khiến cho tuôn chẩy từ khắp thân thể tôi thành tiếng cười. Tôi ước rằng đời tôi vẫn là một giọt lệ và một nụ cười.

Một giọt lệ để thanh tịnh trái tim tôi và cho tôi hiểu biết những huyền bí và những sự vật ẩn khuất của đời sống. Một nụ cười để đem tôi gần gũi đồng loại và làm một biểu tượng cho lời ca tụng các thần linh của tôi.

Một giọt lệ để kếp hợp tôi với những kẻ khổ đau; một nụ cười để biểu hiệu cho niềm vui sống của tôi.

Tôi thà chịu chết trong mong mỏi khát khao hơn là trong mỏi mòn tuyệt vọng.

Tôi muốn sự thèm khát tình yêu và vẻ đẹp ngự trị trong sâu thẳm hồn tôi, vì tôi vẫn coi những kẻ thỏa mãn là những kẻ đốn mạt nhất. Tôi đã nghe tiếng thở dài của những kẻ mong mỏi khát khao và nó còn dịu dàng hơn là khúc điệu dịu dàng nhất.

Buổi chiều đến bông hoa khép những cánh lại và yên ngủ, ôm ấp nỗi hoài mong. Khi buổi sáng đến, nó hé môi để đón nhận nụ hôn của mặt trời.

Đời sống của một bông hoa là mong mỏi và thành tựu. Một giọt lệ và một nụ cười

Kahlil Gibran - Ðừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn

Nguyễn Ước dịch

Lời người dịch:

Trên vách nhà của nhiều người Mỹ có treo tấm lắc ghi câu cố Tổng thống John F. Kennedy kêu gọi đồng bào Hoa Kỳ của ông và các công dân thế giới, trong diễn văn nhậm chức ngày 20.1.1961:

“Ask not what your country can do for you, but ask what you can do for your country.”

(Ðừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn, mà hãy hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước.)

Lời phát biểu bất hủ ấy lần đầu tiên xuất hiện trong một bài thơ xuôi của Kahlil Gibran, viết bằng tiếng Arập, khoảng thập niên 1920, mà nhan đề của nó, theo Joseph Sheban, có thể dịch sang tiếng Anh là The New Deal (Đối xử mới) hoặc The New Frontier (Biên cương mới).

Kahlil Gibran (1883-1931) là thi sĩ và họa sĩ người Mỹ gốc Liban. Cùng gia đình di dân sang New York năm 1895, tới năm 15 tuổi ông quay về học ở quê hương và trở lại Mỹ năm 1902. Ba mươi năm sau, thi hài của ông được đem về an táng tại thị trấn chôn nhau cắt rốn.

Gibran để lại hàng trăm bức họa và khoảng 30 tác phẩm viết bằng tiếng Arập hoặc tiếng Anh. Với cung giọng ngôn sứ đầy chất thơ, tác phẩm của Kahil Gibran như một dòng chảy tổng hợp các suối nguồn Do thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Các bài trường đoản cú hay các bài thơ xuôi của ông cao nhã, ngôn từ trang trọng, với hình ảnh con người hướng thượng, chiêm nghiệm, và dấn thân, kèm theo những cái nhìn thấu suốt vào các chủ đề của cuộc sống, được diễn tả bằng thuật ngữ tâm linh.

Tuyệt phẩm The Prophet (Ngôn sứ) của Gibran xuất bản lần đầu năm 1923, được dịch ra hơn 20 thứ tiếng và là một trong các sách bán chạy nhất tại Mỹ trong thế kỷ 20. The Prophet gồm 26 tiểu luận bằng thơ xuôi, ứng xử chuyên biệt với các chủ đề trong cuộc sống. Nó đặc biệt nổi bật trong thập niên 1960 với hai trào lưu Thời đại Mới (New Age) và Phản Văn hóa (Counter-culture), đồng thời tinh thần Biên cương mới góp phần tạo cảm hứng cho các phong trào thiện nguyện viên quốc tế, các tổ chức bất vụ lợi (NGO) hoạt động văn hóa, xã hội, y tế… trên khắp thế giới.

Với Kahil Gibran, “Lịch sử chỉ lặp lại chính nó trong tâm trí những kẻ không biết lịch sử” (History does not repeat itself except in the minds of those who do not know history), và “Một nửa những gì tôi viết là vô nghĩa, nhưng tôi nói nửa ấy ra để nửa kia có thể với tới bạn” (Half of what I say is meaningless, but I say it so that the other half may reach you).

Một số câu truyện và bài viết của Gibran bảy tám chục năm trước đã thuộc về lịch sử, nhưng một số khác vẫn mang tính đương đại, vượt thời gian và thích hợp với hoàn cảnh chính trị và văn hóa thời nay, trong đó có thể kể luôn cả Việt Nam. Có lẽ nhờ thế từ sau khi Gibran qua đời, ảnh hưởng của ông ngày càng lan rộng từ lãnh vực hội họa, triết học, văn học cho tới môi sinh, tại các đại học Hoa Kỳ và Trung Ðông, Unesco, các giải thưởng quốc tế mang tên ông…

Tại Nam Việt trước năm 1975, có ít nhất năm tác phẩm của Kahil Gibran được dịch ra tiếng Việt và xuất bản. Cuốn The Prophet có hai bản dịch: Kẻ tiên triMật khải.

Bài thơ xuôi dưới đây dịch từ bản tiếng Anh của Joseph Sheban, trích từ cuốn A Third Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng thứ ba của Kahlil Gibran) do Andrew Dib Sherfan biên tập và giới thiệu, Nxb The Citadel Press, Secaucus, New Jersey, HK, tái bản lần thứ ba năm 1975, tt. 52-57.

______________

Biên cương mới

Kahlil Gibran

Ở Trung Ðông ngày nay có hai ý tưởng cũ và mới đang thách thức nhau.

Những ý tưởng cũ rồi sẽ biến mất vì chúng yếu ớt và kiệt quệ.

Ở Trung Ðông đang có cơn bừng tỉnh xem thường những giấc ngủ say. Cơn bừng tỉnh này sẽ lướt thắng vì mặt trời là thủ lãnh và bình minh là đạo binh của nó.

Trên các cánh đồng Trung Ðông, nơi bao la đất nghĩa trang, đứng lên tuổi trẻ của mùa Xuân, cất lời kêu gọi những ai cư ngụ trong mộ đá hãy trỗi dậy và tiến về những biên cương mới.

Khi mùa Xuân ngân lên nhịp điệu của nó cũng là lúc thần chết vươn vai, trải tấm vải liệm và cất bước chân đi.

Nơi chân trời Trung Ðông cơn bừng tỉnh mới đang dâng cao và trải rộng, chạm tới và bao phủ mọi linh hồn mẫn tuệ và nhạy cảm, thấm sâu và thu phục thiện cảm của những con tim cao nhã.

Trung Ðông ngày nay có hai chủ nhân. Một là người quyết định, ra lệnh và được vâng lời; nhưng kẻ đó đang lâm vào thời điểm tử vong.

Còn chủ nhân kia dù im tiếng tuân giữ luật lệ và trật tự, trầm lặng trông chờ công lý; nhưng là người khổng lồ đầy quyền năng, biết rõ sức mạnh của mình, tự tin vào sự hiện hữu của mình và tin tưởng định mệnh của mình.

Ở Trung Ðông ngày nay, có hai loại người: một của quá khứ và một của tương lai. Bạn là con người nào trong hai loại đó? Hãy tới sát bên tôi để tôi nhìn bạn, và hãy cho tôi được bảo đảm, bằng diện mạo và hạnh kiểm của bạn, rằng bạn là người cất bước tiến về nơi ánh sáng hay là kẻ đang đi vào chốn tối tăm.

Hãy tới kề bên tôi, nói cho tôi biết bạn là ai và bạn làm gì.

Có phải là bạn là kẻ làm chính trị đang hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn, hay bạn là người nhiệt tình đang hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn là ký sinh trùng; nếu là người thứ hai, thế thì bạn đang là ốc đảo trong sa mạc.

Có phải bạn là một thương buôn đang sử dụng những cần thiết của xã hội cho các nhu cầu của cuộc sống mình, cho lợi nhuận độc quyền và phi lý, hay bạn là người siêng năng giản dị, cần cù lao động, sẵn lòng cho sự đổi chác giữa thợ dệt và nông dân, và có phải bạn đang đòi lợi nhuận hợp lý như một người trung gian giữa hai phía cung cầu?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn là phạm nhân dù đang sống trong lâu đài biệt thự hay chốn lao tù. Nếu là người thứ hai, thế thì bạn là người từ tâm cho dẫu bạn được dân chúng cảm tạ hoặc bị họ đấu tố.

Có phải bạn là nhà lãnh đạo tôn giáo đang đan dệt cho hình hài mình chiếc áo chùng tu sĩ xuất từ sự vô minh của dân chúng, đang nặn đúc chiếc mũ miện cho mình xuất từ sự chất phác của tâm hồn dân chúng, và đang giả vờ ghét cái ác chỉ vì muốn sống dựa vào lợi tức của mình?

Hay có phải bạn là người ngoan đạo và tận hiến, đang tìm thấy trong lòng mộ đạo của cá nhân mỗi người nền tảng cho một đất nước tiến bộ, và có thể thấy xuyên qua cuộc tìm kiếm sâu xa trong thăm thẳm linh hồn mình chiếc thang dẫn lên linh hồn vĩnh cửu, cái định hướng cho thế giới?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn là tên dị giáo, không tin vào Thượng đế dù đang ăn chay ban ngày và cầu nguyện ban đêm.

Nếu là người thứ hai, thế thì bạn là cây hoa tím trong vườn chân lý cho dẫu mùi thơm thất lạc trên cánh mũi của loài người, hoặc cho dẫu hương thơm tỏa vào không khí hiếm hoi ở đó mùi hương của các đóa hoa được giữ gìn.

Có phải bạn là người làm báo, đang bán ý tưởng và nguyên tắc của mình trong ngôi chợ nô lệ, và sống trên sự khốn khó của dân chúng, như kên kên chỉ sà cánh xuống các thây ma động vật thối rữa?

Hay có phải bạn là nhà giáo trên bục giảng của đô thị, đang thu thập kinh nghiệm từ cuộc sống và trình bày cho dân chúng theo những bài giảng bạn từng học được?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn là vết thương và mụt nhọt. Nếu là người thứ hai, thế thì bạn là thuốc xoa dịu chỗ đau và là dược phẩm.

Có phải bạn là người cai trị đang tự hạ trước kẻ bổ nhiệm mình, xem thường những ai bị mình cai trị, và chưa hề nhấc bàn tay trừ phi để với tới các chiếc túi, cũng như không bao giờ cất chân bước tới trừ phi để nghênh đón cấp trên?

Hay có phải bạn là người đầy tớ trung thành chỉ phục vụ cho phúc lợi của dân chúng?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn như bao bì khấu trừ trong sân đập lúa của quốc gia; và nếu là người thứ hai, thế thì bạn là phúc lành trên các kho lẫm.

Có phải bạn là người đang cho mình được làm điều mình không cho phép vợ làm, bỏ nàng sống quạnh hiu với chiếc chìa khóa bạn nhét kỹ trong chiếc ủng của mình, và đang tham lam ăn nhậu, nhồi nhét các thức ăn mình ưa chuộng trong khi nàng ngồi đó với chiếc đĩa trống không?

Hay có phải bạn là người bạn đời chỉ hành động khi sóng đôi tay trong tay hoặc không làm điều gì nếu nàng chưa đưa ý nghĩ và ý kiến của riêng nàng, và cùng chia sẻ với nàng hạnh phúc và thành công của bạn?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn là một tàn dư của bộ lạc, đang khoác lớp da của loài sinh vật đã biến mất rất lâu trước ngày rời hang động; và nếu bạn là người thứ hai, thế thì bạn là lãnh đạo của một đất nước đang chuyển động trong rạng đông tới ánh sáng của công lý và minh triết.

Có phải bạn là một nhà văn đang chỉ tìm kiếm trong sự tự ngưỡng mộ, giữ cho mình ở mãi trong thung lũng quá khứ bụi bặm, nơi các thời đại vứt lại tàn dư y trang và các ý tưởng vô dụng?

Hay bạn là người suy tư sáng sủa, đang xem xét điều tốt lành và hữu ích cho xã hội, và trang trải đời mình trong cuộc xây dựng những gì mang lại lợi ích và hủy diệt những gì gây tổn hại?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn nhu nhược và rồ dại; và nếu là người thứ hai, thế thì bạn là cơm cho những ai đang đói và nước cho những ai đang khát.

Có phải bạn là một nhà thơ đang rung lục lạc nơi cửa nhà các tiểu vương gia hay tung hoa trong lễ cưới, và là kẻ bước đi trong đám tang với chiếc khăn thấm đẫm nước ấm trên cửa miệng, rồi được vắt bằng lưỡi cùng môi mình ngay lúc vừa đặt chân tới nghĩa trang?

Hay có phải bạn là tặng phẩm Thượng đế đặt trong đôi bàn tay bạn, nơi dạo lên những khúc nhạc tuyệt trần, nâng tâm hồn chúng tôi tới những tuyệt vời trong cuộc sống?

Nếu là kẻ thứ nhất, thế thì bạn là gã làm trò tung hứng, đang gợi lên trong lòng chúng tôi điều ngược lại những gì bạn dự tính.

Nếu là người thứ hai, thế thì bạn là tình yêu trong con tim của chúng tôi và là khải thị trong tâm trí của chúng tôi.

Ở Trung Ðông đang có hai đám rước: một của dân chúng già nua bước đi với những chiếc lưng cong, được nâng đỡ bởi những chiếc gậy cong; họ phì phò thở dù đang trên đường bước xuống đồi.

Hai là đám rước của những người trẻ trung, chạy như bằng đôi chân có cánh và hân hoan như trong thanh quản có sợi tơ đàn; họ vượt qua các chướng ngại như thể đang có nam châm hút họ lên sườn núi và đang có ma thuật mê hoặc trái tim họ.

Bạn thì sao, bạn muốn mình chuyển động trong đám rước nào?

Bạn hãy tự hỏi và lắng mình suy tưởng khi vẫn còn đêm, hãy thấy cho ra mình là nô lệ của hôm qua hay giải thoát cho ngày mai.

Tôi nói với bạn rằng con cái của các năm qua đang bước đi trong đám ma của một kỷ nguyên do chúng tạo ra cho chính chúng. Chúng đang níu kéo sợi thừng mục nhão hẳn sẽ sớm đứt và khiến chúng rơi xuống vực thẳm lãng quên. Tôi nói cho biết rằng chúng đang sống trong những ngôi nhà nền móng suy sụp - nhà của chúng sẽ đổ ập xuống đầu chúng, và như thế sẽ trở thành huyệt mộ của chúng. Tôi nói cho biết rằng hết thảy các ý nghĩ của chúng, các lời nói của chúng, các tranh cãi của chúng, các sáng tác phẩm của chúng, các cuốn sách của chúng và toàn bộ công trình của chúng đều chỉ là những dây xích quá yếu ớt chúng lê theo, không đủ sức kéo khối nặng của chính chúng.

Nhưng con cái của ngày mai là những người được cuộc đời kêu gọi. Họ đi theo nó với đầu ngẩng cao và bằng bước chân chắc nịch. Họ là rạng động của những biên cương mới, không khói sương nào che phủ được họ, không tiếng loảng xoảng của xiềng xích nào nhấn chìm nổi tiếng nói của họ. Họ ít ỏi về số lượng nhưng khác với đống cỏ khô, họ là hạt lúa giống. Chẳng ai biết họ nhưng họ biết nhau. Họ giống những đỉnh núi có thể thấy nhau và nghe nhau, không như những cái hang chẳng bao giờ có thể nghe và thấy. Là hạt giống gieo bởi bàn tay Thượng đế trên cánh đồng, họ sẽ xuyên thủng vỏ và đong đưa chiếc lá tươi non trước vầng thái dương. Rồi sẽ lớn thành cây mạnh mẽ với rễ cắm sâu trong lòng đất và cành vươn lên giữa trời cao.